In:
Chế độ xem:
Cỡ chữ: A | A- | A+

Chiến lược phát triển năng lượng nguyên tử đến năm 2035: Tầm nhìn chiến lược và bài toán huy động nguồn lực

Bài đăng vào lúc: 04:08:00, ngày: 11/03/2026 GMT +7


       Ngày 16/3/2026, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 tại Quyết định số 438/QĐ-TTg. Đây không chỉ là bước đi quan trọng nhằm khẳng định vị thế khoa học công nghệ của Việt Nam mà còn là lời giải cho bài toán an ninh năng lượng và phát triển kinh tế xanh trong tương lai.
       1. Quan điểm phát triển: Từ ứng dụng kỹ thuật đến ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn
       Điểm mới nhất của Chiến lược lần này là việc xác định phát triển, ứng dụng năng lượng nguyên tử phải trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật. Điều này có nghĩa là năng lượng nguyên tử không còn chỉ nằm trong các phòng thí nghiệm mà phải tạo ra giá trị gia tăng rõ rệt cho nền kinh tế.
       Chính phủ khẳng định phát triển điện hạt nhân là một chính sách nhất quán, có ý nghĩa chiến lược, dựa trên tầm nhìn dài hạn về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực. Tuy nhiên, mục tiêu an toàn và an ninh luôn được đặt lên hàng đầu, là nền tảng cho mọi hoạt động nghiên cứu và triển khai.
       Đặc biệt, Nhà nước giữ vai trò định hướng nhưng đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ mô hình hợp tác công - tư (PPP), khuyến khích đầu tư tư nhân và phát huy nội lực của doanh nghiệp trong việc làm chủ công nghệ.
       2. Mục tiêu chiến lược: Những cột mốc cụ thể
       Chiến lược phân kỳ lộ trình thực hiện thành hai giai đoạn chính với những chỉ tiêu định lượng rất rõ ràng:
       Giai đoạn đến năm 2030: Đặt nền móng vững chắc
       - Về điện hạt nhân: Triển khai các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 bảo đảm an toàn, hiệu quả. Đồng thời, hình thành nền tảng để tiếp thu công nghệ lò phản ứng hạt nhân mô-đun nhỏ (SMR).
 
       - Về y tế: Mở rộng mạng lưới cơ sở y học hạt nhân và ung bướu. Mục tiêu đạt tỷ lệ 15 máy CT, 1,1 máy xạ trị gia tốc và 1 máy chụp can thiệp mạch (DSA) trên mỗi triệu dân.
       - Về nông nghiệp: Duy trì vị trí số 1 Đông Nam Á về ứng dụng bức xạ trong chọn tạo giống đột biến, đảm bảo tỷ lệ đóng góp của lĩnh vực này tăng tối thiểu 10% mỗi năm.
       - Về hạ tầng: Hoàn thành xây dựng và vận hành Trung tâm Nghiên cứu khoa học công nghệ hạt nhân tại Đồng Nai.
       Giai đoạn đến năm 2035: Bứt phá và làm chủ
       - Vận hành nhà máy: Đưa vào vận hành an toàn 2 nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận. Phấn đấu doanh nghiệp trong nước tham gia đạt tỷ lệ 30% tổng mức đầu tư các hạng mục phụ trợ.
       - Hiện đại hóa y học: Nâng chỉ tiêu lên 20 máy CT/triệu dân và 10 máy MRI/triệu dân. Đặc biệt là nghiên cứu đầu tư các công nghệ tiên tiến như xạ trị proton.
 
       - Công nghiệp và Môi trường: Làm chủ công nghệ bức xạ trong quản lý chất lượng công trình, xử lý vật liệu và chế biến sâu quặng đất hiếm.
       - Đào tạo nhân lực: Phát triển đội ngũ khoảng 2.500 nhân lực quản lý và nghiên cứu, cùng với 3.900 nhân lực phục vụ riêng cho các nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận.
       3. Định hướng phát triển đa ngành: Cơ hội cho các địa phương
       Chiến lược không chỉ tập trung vào điện năng mà còn lan tỏa sang nhiều lĩnh vực thiết yếu mà một tỉnh nông nghiệp như Gia Lai có thể hưởng lợi:
       * Ứng dụng trong Nông nghiệp và Bảo vệ môi trường: Chiến lược định hướng nghiên cứu các giống cây trồng đột biến có giá trị cao, chịu được biến đổi khí hậu. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ chiếu xạ để bảo quản và kiểm dịch nông sản xuất khẩu sẽ là chìa khóa để nâng cao giá trị nông sản địa phương. Bên cạnh đó, kỹ thuật hạt nhân còn được dùng để quan trắc tài nguyên nước, đánh giá bồi xói và ô nhiễm môi trường.
       * Y tế bức xạ chuyên sâu: Phát triển mạng lưới xạ trị và y học hạt nhân cân đối giữa các vùng miền, giúp người dân vùng sâu vùng xa tiếp cận được các dịch vụ chẩn đoán, điều trị bệnh hiểm nghèo ngay tại địa phương.
       * Phát triển tiềm lực khoa học công nghệ: Hệ thống các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công nghệ điện hạt nhân, đất hiếm và titan sẽ được hình thành. Đây là cơ hội để các nhà khoa học trẻ và sinh viên chuyên ngành có môi trường làm việc đạt chuẩn quốc tế.
       4. Giải pháp về Tài chính và Đầu tư
       * Đa dạng hóa nguồn vốn: Kinh phí thực hiện Chiến lược không chỉ dựa vào Ngân sách nhà nước mà còn từ doanh nghiệp, khu vực tư nhân và các nguồn ODA, vốn vay ưu đãi. Nhà nước sẽ ưu tiên bố trí ngân sách cho các chương trình hạ tầng chiến lược, đào tạo nhân lực và nghiên cứu cơ bản.
       * Cơ chế khuyến khích đầu tư: Bộ Tài chính có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành liên quan để:
       - Xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về đầu tư cho các thành phần kinh tế tham gia phát triển điện hạt nhân, đặc biệt là các lò phản ứng mô-đun nhỏ.
       - Xây dựng danh mục các dự án khuyến khích đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP).
 
       - Hoàn thiện quy định về chế độ phụ cấp đặc thù cho người lao động trực tiếp với phóng xạ và chính sách đãi ngộ tiền lương để thu hút chuyên gia giỏi.
       5. Chuyển đổi số và Trí tuệ nhân tạo: Động lực vận hành an toàn
       - Một điểm nhấn hiện đại trong Chiến lược là việc ứng dụng Chuyển đổi số toàn diện. Chính phủ yêu cầu xây dựng nền tảng số về an toàn bức xạ, kết nối liên thông giữa các Bộ, ngành và địa phương.
       - Trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ được ứng dụng trong đánh giá rủi ro theo từng vùng, cảnh báo sớm sự cố hạt nhân xuyên biên giới và hỗ trợ chẩn đoán điều trị trong y tế. Việc minh bạch hóa dữ liệu quan trắc phóng xạ cũng là giải pháp quan trọng để tạo sự đồng thuận và niềm tin trong nhân dân.
       ​​​​​​​6. Trách nhiệm triển khai và vai trò của địa phương
       Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có trách nhiệm lồng ghép các nhiệm vụ của Chiến lược vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương mình. Đối với ngành Tài chính tại địa phương, việc rà soát và ưu tiên bố trí nguồn lực cho các dự án ứng dụng công nghệ cao, nâng cấp thiết bị y tế và hỗ trợ doanh nghiệp nông nghiệp tiếp cận công nghệ bức xạ là nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới./.
Người viết bài
                                          Đặng Công Hảo - Phòng Quản lý ngành