In:
Chế độ xem:
Cỡ chữ: A | A- | A+

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2026 trên địa bàn tỉnh.

Bài đăng vào lúc: 10:51:00, ngày: 27/08/2026 GMT +7


  
 1. Về sản xuất nông, lâm, thủy sản, quản lý tài nguyên và môi trường
    Trong tháng 7, ngành Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp các địa phương tập trung chỉ đạo hoàn thành kế hoạch sản xuất vụ Đông Xuân 2025-2026 và triển khai kế hoạch sản xuất vụ Hè Thu năm 2026; trong đó, tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ, bố trí cơ cấu giống phù hợp; phát triển đàn vật nuôi gắn với công tác phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm; thực hiện các giải pháp cấp bách về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU) và các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác xa bờ; triển khai công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng, phát triển trồng rừng sản xuất; công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; công tác quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tăng cường, triển khai thực hiện có hiệu quả. Nhìn chung, tình hình sản xuất nông, lâm, thủy sản, quản lý tài nguyên và môi trường tháng 7/2026 tiếp tục duy trì được sự ổn định và phát triển.
    Về trồng trọt: Tính đến thời điểm hiện tại, các địa phương đã xuống giống gieo trồng khoảng 57.662 ha cây trồng vụ Hè Thu, đạt 99,4% kế hoạch (viết tắt KH) và 135.614 ha cây trồng vụ Mùa, đạt 55,8% KH; diện tích thu hoạch vụ Hè Thu là 870 ha. Nhờ chủ động triển khai thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng trừ sâu bệnh gây hại trên cây trồng ngay từ đầu vụ gieo trồng; chủ động kiểm tra, thực hiện tốt công tác điều tra, dự tính dự báo; hướng dẫn người dân phòng trừ kịp thời, hiệu quả, không để lây lan trên diện rộng. Nhìn chung, các đối tượng sinh vật hại cây trồng phát sinh gây hại cục bộ, tỷ lệ hại thấp.
    Trong kỳ, được cấp mới 03 mã số vùng trồng với diện tích 81,57 ha. Lũy kế đến nay, trên địa bàn tỉnh đã được cấp 404 mã số vùng trồng, với tổng diện tích 12.259,48 ha; 53 mã số cơ sở đóng gói trái cây xuất khẩu.
    Về chăn nuôi: Trong tháng, công tác quản lý kiểm soát chăn nuôi, phát triển tái đàn gắn với phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tăng cường, tình hình chăn nuôi phát triển ổn định. Tổng đàn vật nuôi kỳ tháng 7/2026: Đàn bò ước đạt 793.079 con, đạt 95,6% KH, tăng 0,5% so cùng kỳ (viết tắt CK). Đàn lợn (không kể lợn con chưa tách mẹ) đạt 1,739 triệu con, đạt 79,8% KH, tăng 19,8% CK. Đàn gia cầm đạt 18,81 triệu con, đạt 95,2% KH, tăng 6% CK. 
    Toàn tỉnh hiện có 1.186 trang trại, dự án chăn nuôi hoạt động gồm: 78 dự án chăn nuôi và 1.108 cơ sở chăn nuôi theo quy mô trang trại; chăn nuôi theo hình thức công nghiệp, trang trại chiếm 32,12%; có 06 chuỗi liên kết giữa các doanh nghiệp với người chăn nuôi, với tổng 210 trại liên kết và 13 hợp tác xã liên kết với các hộ sản xuất theo chuỗi; có 25 cơ sở chăn nuôi được chứng nhận theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.
    Trong tháng, đã thu hút thêm 02 dự án chăn nuôi; đến nay, tỉnh đã thu hút được 311 dự án đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi (Đông Gia Lai 37 dự án, Tây Gia Lai 274 dự án) với tổng diện tích 13.780,77 ha, tổng vốn đầu tư xây dựng 67.564 tỷ đồng.
    Về lâm nghiệp: Công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng tiếp tục thực hiện nghiêm túc, hiệu quả; trong tháng xảy ra 02 vụ cháy rừng trồng, diện tích thiệt hại 20,37 ha; Trong tháng, phát hiện, bắt giữ 33 vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp, lũy kế từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 186 vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp. Đã xử lý 99 vụ vi phạm (93 vụ vi phạm hành chính và 06 vụ vi phạm hình sự), đang xác minh, xử lý 87 vụ.
    Công tác sử dụng và phát triển rừng tiếp tục được quan tâm. Trong tháng, đã trồng được được 1.136 ha rừng trồng, khai thác 7.770 ha, sản lượng gỗ khai thác được 751.932 m3. Lũy kế từ đầu năm đến nay, đã trồng được 6.386 ha (trồng rừng tập trung 6.340 ha, trồng cây phân tán 46 ha), đạt 15% KH; đã khai thác 20.211 ha, sản lượng gỗ khai thác được 1.995.248 m3, đạt 75,5% KH; sản xuất được 119 triệu cây giống các loại.
    Về thủy sản: Trong tháng 7, thời tiết trên biển có thời điểm diễn biến không thuận lợi ảnh hưởng đến thời gian bám biển và việc tổ chức các chuyến khai thác của ngư dân; nắng nóng dài và những cơn mưa trái mùa ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nuôi trồng thuỷ sản. Tổng sản lượng thuỷ sản ước đạt 29.012 tấn, luỹ kế ước đạt 185.038 tấn, đạt 58,9% KH, tăng 2,5% CK. Trong đó: Sản lượng khai thác thuỷ sản ước đạt 27.168 tấn; luỹ kế ước đạt 175.229 tấn, đạt 59,6% KH, tăng 2,6% CK (sản lượng cá ngừ đại dương ước đạt 9.300 tấn, tăng 10% CK). Sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 1.844,5 tấn; luỹ kế ước đạt 9.808,6 tấn, đạt 49% KH, tăng 1,7% CK.
    Tổng kết, đánh giá kết quả vận hành Hệ thống truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác điện tử (eCDT); Ban hành Quyết định số 2876/QĐ-UBND ngày 04/7/2026 về Kế hoạch chuẩn bị và làm việc với Đoàn kiểm tra của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Ban hành Chỉ thị số 16/CT-UBND ngày 13/7/2026 về tăng cường quản lý tàu cá không đủ điều kiện hoạt động khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh.
    Tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả các Chính sách hỗ trợ khai thác thuỷ sản trên địa bàn tỉnh. Đêm 9/7/2026 cháy lớn ở cảng cá Tam Quan, cơ quan chức năng thống kê có 6 tàu cá của ngư dân bị cháy hoàn toàn và 2 tàu cháy một phần. 
    Công tác xây dựng nông thôn mới: Phối hợp với các địa phương hình thành mới 02 hợp tác xã nông nghiệp; xây dựng Phương án liên kết phát triển bền vững vùng nguyên liệu mía trên địa bàn các xã Kbang, Kông Bơ La, Tơ Tung và Krong giai đoạn 2026-2030 với Nhà máy đường An Khê; đồng thời tiếp tục đẩy nhanh tiến độ xây dựng phương án liên kết chuỗi giá trị sản phẩm cà phê trên địa bàn.
    Xây dựng Kế hoạch rà soát, công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo năm 2026 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025 và theo chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2027-2030 trên địa bàn tỉnh Gia Lai; Kế hoạch thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035, giai đoạn I: Từ năm 2026 đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Gia Lai năm 2026.
    Tổ chức kiểm tra, đôn đốc, giám sát và tổng hợp tiến độ triển khai thực hiện 16 dự án, phương án khẩn cấp bố trí dân cư các vùng có nguy cơ cao về thiên tai trên địa bàn tỉnh.
    Công tác quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tăng cường. Các địa phương tiếp tục tăng cường công tác quản lý tài nguyên khoáng sản (đất, đá, cát…), kiểm tra, kịp thời xử lý nghiêm các trường hợp khai thác đất, đá, cát… trái phép hoặc không đúng quy định gây lãng phí tài nguyên, thất thu ngân sách, ô nhiễm môi trường.
    Triển khai xây dựng 03 văn bản QPPL (01 nghị quyết HĐND, 02 quyết định của UBND) trong lĩnh vực quản lý đất đai  và đề xuất các giải pháp xử lý 22 vướng mắc trong thực hiện công tác bồi thường, GPMB và giá đất trên địa bàn các xã, phường; tiến hành phê duyệt 02 phương án đấu giá quyền sử dụng đất do Trung tâm Phát triển quỹ đất thực hiện và 08 kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất. Thành lập Hội đồng đánh giá kết quả thực nghiệm đo đạc, thành lập bản đồ địa chính bằng công nghệ UAV tại phường Bình Định phục vụ công tác chuyển đổi số trong xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai. 
    Trình ban hành 35 giấy phép hoạt động khoáng sản, tài nguyên nước; 10 quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản với tổng số tiền phải nộp hơn 42,5 tỷ đồng, trong đó số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản phải nộp năm 2026 hơn 21,4 tỷ đồng. Phê duyệt Kế hoạch đấu giá quyền khai thác khoáng sản trên địa bàn tỉnh Gia Lai năm 2026; triển khai công tác đấu giá quyền khai thác khoáng sản theo kế hoạch. Tổ chức làm việc, xem xét kiến nghị tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp về vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình, dự án. Hoàn thiện Kế hoạch tập huấn, hướng dẫn cho 65 xã, phường được ủy quyền cấp phép hoạt động khoáng sản.
    2. Về sản xuất công nghiệp – xây dựng
    Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 7/2026 ước tăng 1,66% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, Chỉ số IIP ước tăng 7,97% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,56%; ngành khai khoáng giảm 4,31%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 3,00%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,62% so với cùng kỳ.
    Một số sản phẩm chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ như: Ống tuýp, ống dẫn và ống vòi loại cứng tăng 67,72%; Gạch ốp lát tăng 53,66%; Bàn nhựa giả mây tăng 43,8%; Sữa chua tăng 37,86%; Sữa và kem cô đặc tăng 37,14%; Ghế nhựa giả mây tăng 33,12%; Nước cam, chanh, quít, bưởi tươi tăng 32,39%; Bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài tăng 19,63%; Điện mặt trời tăng 18,39%; Áo bó, áo chui đầu, áo cài khuy, gi-lê và các mặt hàng tương tự dệt kim hoặc móc tăng 18,02%; Phi lê cá và các loại thịt cá khác tươi, ướp lạnh tăng 15,59%... Ngược lại, một số sản phẩm khác sản lượng giảm so với cùng kỳ: Quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 19,77%; Quần tất, quần áo nịt, bít tất dài giảm 18,45%; Thuốc nước để tiêm giảm 9,77%; Đá xây dựng khác giảm 8,39%; Điện gió giảm 7,37%; Bia đóng chai giảm 5,97%...
    Các Khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục kêu gọi thu hút đầu tư, xây dựng nhà xưởng và hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh tạo việc làm, tăng thu nhập và an sinh xã hội. Từ đầu năm đến nay đã thu hút 12 dự án với tổng vốn đầu tư 1.046,4 tỷ đồng, tổng diện tích 48,1 ha. Hiện có 11 dự án đang triển khai thủ tục với vốn đầu tư 1.429,2 tỷ đồng, diện tích 30,1 ha. Đối với Khu công nghiệp Becamex VSIP và các khu, cụm công nghiệp trọng điểm, tỉnh tập trung chỉ đạo hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, các khu tái định cư, khu dân cư và các công trình hạ tầng thiết yếu; đẩy nhanh thu hút các dự án thứ cấp, nhất là các dự án công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng và các dự án có khả năng triển khai nhanh.
    Tháng 7 có 09 dự án sản xuất công nghiệp đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư 13.355 tỷ đồng. Lũy kế 7 tháng, có 67 dự án với tổng vốn đầu tư 22.455 tỷ đồng đi vào hoạt động; trong đó, có 16 dự án trọng điểm với tổng vốn đầu tư 21.430 tỷ đồng.
    Về Xây dựng: Hoạt động quản lý đầu tư xây dựng, vật liệu xây dựng, quy hoạch – kiến trúc và phát triển đô thị tiếp tục được tăng cường. Công tác thẩm định dự án, thiết kế xây dựng, kiểm tra nghiệm thu công trình được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định, góp phần nâng cao chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
    Công tác điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Gia Lai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được khẩn trương triển khai, đến nay Hội đồng nhân dân tỉnh đã thông qua Nghị quyết số 345/NQ-UBND ngày 16/7/2026 và UBND tỉnh đã phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh tại Quyết định số 3106/QĐ-UBND - 23/07/2026.
    3. Về thương mại, dịch vụ, tài chính
    Trong tháng 7/2026, hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Gia Lai tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân. Nguồn cung các mặt hàng thiết yếu được bảo đảm, thị trường hàng hóa cơ bản ổn định. Công tác quản lý, điều hành thị trường được triển khai đồng bộ, góp phần ổn định thị trường, hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương 
    - Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tiếp tục tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu dùng của người dân, hoạt động du lịch nội địa và lưu thông hàng hóa diễn ra thuận lợi. Hệ thống phân phối từ chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng tiện lợi đến thương mại điện tử hoạt động ổn định, góp phần mở rộng khả năng tiếp cận hàng hóa của người tiêu dùng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 7 ước đạt 20.369 tỷ đồng, tăng 13,3% CK. Luỹ kế 7 tháng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 128.697 tỷ đồng tăng 12,8% so với cùng kỳ.
    - Kim ngạch xuất khẩu: trên toàn tỉnh tháng 7 ước đạt 253,2 triệu USD giảm 9,75% so cùng kỳ, luỹ kế 7 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.354 triệu USD tăng 2,7% so với cùng kỳ.
    - Kim ngạch nhập khẩu: trên toàn tỉnh tháng 7 ước đạt 99,1 triệu USD tăng 27,5% so cùng kỳ, 7 tháng đầu năm ước đạt 654,6 triệu USD, tăng 15,4% so với cùng kỳ.
     - Hoạt động xuất nhập khẩu và lưu thông hàng hóa tiếp tục được duy trì, trong đó các mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh như cà phê, hồ tiêu, cao su, trái cây tiếp tục được thu mua và tiêu thụ thuận lợi, phục vụ nhu cầu chế biến và xuất khẩu. Công tác xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu và hỗ trợ doanh nghiệp được triển khai tích cực nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Công tác quản lý thị trường được tăng cường; các lực lượng chức năng thường xuyên kiểm tra, kiểm soát thị trường, kịp thời phát hiện và xử lý các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và vi phạm về an toàn thực phẩm, góp phần ổn định môi trường kinh doanh.
    Nhìn chung, trong tháng 7/2026, hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Gia Lai tiếp tục duy trì ổn định; thị trường hàng hóa thông suốt, cung cầu cơ bản cân đối, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh.
    Về du lịch: Trong tháng 7/2026, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Toàn tỉnh ước đón 1,8 triệu lượt khách, tăng 40% CK. Lũy kế 7 tháng, toàn tỉnh ước đón 10,55 triệu lượt khách, tăng 22,5% CK. Tháng 7/2026, tổng thu từ khách du lịch ước đạt 3.900 tỷ đồng, tăng 39,3% CK. Tổng thu từ khách du lịch 7 tháng đầu năm ước đạt 22.910 tỷ đồng, tăng 22% CK. Các hoạt động trong khuôn khổ Năm Du lịch quốc gia 2026 tiếp tục tạo hiệu ứng tích cực, góp phần duy trì mức tăng cao về lượng khách, doanh thu du lịch và lan tỏa sang các lĩnh vực lưu trú, ăn uống, vận tải, thương mại và dịch vụ.
    Về vận tải hành khách: 7 tháng đầu năm, dịch vụ vận chuyển hành khách ước đạt 58,75 triệu hành khách, tăng 24,6% CK và luân chuyển 8.140,9 triệu HK.km, tăng 32,9% CK. Vận chuyển hàng hoá ước đạt 36,64 triệu tấn, tăng 16,1% CK; luân chuyển 5.426,2 triệu tấn.km, tăng 19,6% CK. Doanh thu vận tải ước đạt 13.207,2 tỷ đồng, tăng 20,7% CK.
    Tổng thu ngân sách nhà nước thực hiện đến ngày 29/7 đạt 18.439 tỷ đồng đạt 66,2% dự toán năm, tăng 12,7% CK. Trong đó: Thu nội địa (trừ tiền sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết, thu cổ tức và lợi nhuận sau thuế) thực hiện là 12.473 tỷ đồng, đạt 81,7% dự toán năm, tăng 48,2% CK; thu tiền sử dụng đất thực hiện 4.971 tỷ đồng, đạt 43,6% dự toán năm, giảm 31,9% CK; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu là 548 tỷ đồng, đạt 108,3% dự toán năm, tăng 97,5% so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách địa phương thực hiện đến ngày 20/7 là 20.619 tỷ đồng, đạt 45,7% dự toán năm.
    Về hoạt động tài chính, tín dụng, tiếp tục thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về lãi suất huy động và cho vay; triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời và có hiệu quả các giải pháp, cơ chế, chính sách của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Ước đến ngày 31/7/2026, tổng nguồn vốn huy động tại địa phương là 233.400 tỷ đồng, tăng 9,6% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ là 266.200 tỷ đồng, tăng 4,2% so với cuối năm 2025; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ 1,5%.
    4. Về thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển
    Kế hoạch đầu tư phát triển năm 2026 nguồn ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương đã được UBND tỉnh giao cho các đơn vị, địa phương đầu năm tại Quyết định số 3009/QĐ-UBND ngày 12/12/2025. Tính đến ngày 31/7/2026, tổng kế hoạch vốn năm 2026 tỉnh Gia Lai (kể cả vốn kéo dài) là 30.043,168 tỷ đồng (Trong đó: Kế hoạch vốn năm 2026 là 28.790,826 tỷ đồng; Kế hoạch vốn kéo dài là 1.252,342 tỷ đồng).
    Ngay sau từ đầu năm 2026, UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 10/01/2026 về việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công vốn ngân sách nhà nước do tỉnh quản lý năm 2026. UBND tỉnh đã giao nhiệm vụ, phân công lãnh đạo chịu trách nhiệm theo dõi tiến độ thực hiện cho từng dự án ngay từ đầu năm, nhất là các dự án trọng điểm của tỉnh, các Chương trình mục tiêu quốc gia. Tổng giá trị giải ngân đến ngày 31/7/2026 là: 9.322,822 tỷ đồng (Trong đó: Kế hoạch vốn năm 2026 là 8.759,891 tỷ đồng; Kế hoạch vốn kéo dài là 562,931 tỷ đồng), đạt 33,93% so với Kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao trong năm 2026; đạt 31,03% so với Kế hoạch Hội đồng nhân dân giao. Trong đó: (i) Vốn NS tỉnh có giá trị giải ngân là: 5.138,506 tỷ đồng, đạt 33,67%, (ii) Vốn NSTW (bao gồm ODA) có giá trị giải ngân là: 4.184,316 tỷ đồng, đạt 28,31%.
    So với tỷ lệ giải ngân chung của 34 tỉnh, thành phố năm 2026, tỉnh Gia Lai hiện đứng thứ 21/34, tiệm cận mức bình quân giải ngân chung của cả nước.
    Tuy nhiên, kết quả giải ngân nêu trên vẫn chưa phản ánh đầy đủ, sát thực chất năng lực triển khai và khả năng giải ngân của tỉnh. Nguyên nhân chính ảnh hưởng đến kết quả giải ngân nêu trên: (i) Trong năm 2026, kế hoạch vốn đầu tư công do Thủ tướng Chính phủ và HĐND tỉnh giao được điều chỉnh, bổ sung nhiều đợt so với thời điểm đầu năm. Cụ thể: HĐND tỉnh giao tăng 16.763,417 tỷ đồng (tương đương tăng 126%); Thủ tướng Chính phủ giao tăng 12.634,633 tỷ đồng (tương đương tăng 96%). Việc bổ sung kế hoạch vốn gần đây cũng cần thời gian để chuẩn bị thủ tục, phân bổ chi tiết, thực hiện và giải ngân; đồng thời làm tăng đáng kể quy mô vốn phải thực hiện, giảm tỷ lệ giải ngân khi so sánh trên tổng kế hoạch vốn hiện nay; (ii) Nguồn vốn thực hiện từ nguồn thu tiền sử dụng đất chiếm tỷ trọng lớn nhưng phụ thuộc vào tiến độ thu thực tế, trong khi đó tiến độ thu tiền sử dụng đất chưa đạt yêu cầu đề ra, ảnh hưởng đến khả năng tỷ lệ giải ngân chung; (iii) Một số dự án trọng điểm của tỉnh được bố trí vốn NSTW có kế hoạch vốn lớn nhưng do một số nguyên nhân khách quan nên thực hiện chưa đạt tiến độ đề ra như Dự án Trường phổ thông nội trú liên cấp TH&THCS tại 07 xã biên giới; Dự án Đầu tư xây dựng đường cất hạ cánh số 2 và các công trình đồng bộ tại khu bay Cảng hàng không Phù Cát; Dự án Tu bổ, tôn tạo di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt Tháp Chăm Dương Long…;
    Tính đến thời điểm báo cáo, kết quả giải ngân nguồn thu tiền sử dụng đất đạt 2.512,603/9.690,000 tỷ đồng, tương ứng đạt 25,93%. Khối lượng còn lại cần phải thực hiện trong năm là 7.177,397 tỷ đồng. Hiện nay, số thu tiền sử dụng đất thuộc phần ngân sách tỉnh hưởng đã được thông báo và giải ngân hết. Thực tế, tiến độ giải ngân nguồn thu tiền sử dụng đất phụ thuộc trực tiếp vào tiến độ thu tiền sử dụng đất phát sinh trong năm. Qua rà soát đối với các chủ đầu tư được phân bổ kế hoạch vốn năm 2026, khối lượng dự kiến có thể giải ngân thêm trong trường hợp đảm bảo nguồn thu tiền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh đến nay là 1.652,566 tỷ đồng. Trường hợp tính khối lượng giải ngân dự kiến có thể tăng thêm nêu trên, tổng giá trị giải ngân của tỉnh:
    - Đạt 40,33% so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao trong năm 2026 (10.412,457/25.817,364 tỷ đồng)  .
    - Đạt 36,53% so với Kế hoạch Hội đồng nhân dân tỉnh giao kể cả vốn kéo dài (10.975,388/30.043,168 tỷ đồng).
    UBND tỉnh đã kịp thời đôn đốc, yêu cầu các Chủ đầu tư xây dựng kế hoạch tăng tốc, tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện, hoàn thiện hồ sơ thanh toán và cam kết giải ngân hết kế hoạch vốn được giao trong năm 2026.
    5. Về thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp
    Trong tháng 7, toàn tỉnh thu hút mới 10 dự án với tổng vốn đầu tư là 2.273,55 tỷ đồng. Từ đầu năm đến nay toàn tỉnh thu hút 178 dự án (tăng 44,72% so với cùng kỳ), với tổng vốn đầu tư 167.185,57 tỷ đồng (tăng gấp 2,9 lần so với cùng kỳ). Trong đó có 175 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư 166.869,22 tỷ đồng và 03 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 316,35 tỷ đồng (tương đương 12,17 triệu USD).
    - Dự án phân theo lĩnh vực gồm: 89 dự án thuộc lĩnh vực Công nghiệp, tổng vốn đầu tư 143.202,72 tỷ đồng; 15 dự án thuộc lĩnh vực Xây dựng - hạ tầng, tổng vốn đầu tư 8.937,02 tỷ đồng; 50 dự án thuộc lĩnh vực Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, tổng vốn đầu tư 6.843,86 tỷ đồng; 04 dự án thuộc lĩnh vực Bất động sản, kinh tế đô thị, tổng vốn đầu tư 3.762 tỷ đồng; 15 dự án thuộc lĩnh vực Thương mại dịch vụ, du lịch, tổng vốn đầu tư 3.967,64 tỷ đồng; 01 dự án thuộc lĩnh vực Công nghệ thông tin, tổng vốn đầu tư 0,25 tỷ đồng; 01 dự án thuộc lĩnh vực Dịch vụ cảng và logistics, tổng vốn đầu tư 28 tỷ đồng; 01 dự án thuộc lĩnh vực Y tế, vốn đầu tư 117,59 tỷ đồng; 01 dự án thuộc lĩnh vực Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ 326 tỷ đồng.
    - Phân theo địa bàn: Có 165 dự án ngoài KKT, KCN (29 dự án trong CCN vốn đầu tư 5.395,55 tỷ đồng, 136 dự án ngoài CCN vốn đầu tư 154.288,46 tỷ đồng) với tổng vốn đầu tư 159.684,01 tỷ đồng và 13 dự án trong KKT, KCN với tổng vốn đầu tư 7.501,56 tỷ đồng. 
    Về quản lý đăng ký doanh nghiệp: Trong tháng 7 đã có 291 Doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 7.028 tỷ đồng; tạm ngừng kinh doanh 73 doanh nghiệp; giải thể 134 doanh nghiệp; hoạt động trở lại 40 doanh nghiệp. Luỹ kế 7 tháng đầu năm, cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 2.366 Doanh nghiệp thành lập mới (tăng 29,21% so với cùng kỳ) với tổng vốn đăng ký 36.532 tỷ đồng (tăng gấp 2,88 lần so với cùng kỳ). Tạm ngừng kinh doanh 1.045 doanh nghiệp; giải thể 486 doanh nghiệp; hoạt động trở lại 454 doanh nghiệp.
    6. Về văn hoá - xã hội
    Về Giáo dục: Ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Chương trình giáo dục mầm non thí điểm trên địa bàn tỉnh Gia Lai năm học 2026-2027. Triển khai biên soạn Tài liệu địa phương: ban hành Kế hoạch tổ chức biên soạn và triển khai; Quyết định thành lập Ban biên soạn; Quyết định thành lập Hội đồng thẩm định; triển khai biên soạn Tài liệu Giáo dục địa phương trong Chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Gia Lai; Quyết định quy định về dạy thêm học thêm trên địa bàn tỉnh; ban hành Kế hoạch triển khai giáo dục STEM trong các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh, năm 2026; Kế hoạch triển khai Chương trình Sức khỏe học đường giai đoạn 2026-2035 của ngành Giáo dục trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Tiếp tục theo dõi, đôn đốc và hỗ trợ các đơn vị hoàn thành dữ liệu trên SMAS, cơ sở dữ liệu ngành và học bạ số, nộp về kho dữ liệu của Bộ GDĐT. Triển khai thực hiện Kế hoạch tập huấn về chuyển đổi số, ứng dụng AI trong học tập đối với giáo viên, cán bộ quản lý của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp; Quyết định số 1877/QĐ-UBND ngày 28/4/2026 của UBND tỉnh về Kế hoạch phát triển trồng trọt giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2035 trên địa bàn tỉnh Gia Lai; Thông tư số 49/2026/TT-BGDĐT Quy định ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. 
    Đồng thời, tập trung chuẩn bị các điều kiện cho năm học 2026-2027; rà soát mạng lưới trường lớp, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất sau sắp xếp đơn vị hành chính; đẩy nhanh thủ tục các dự án trường phổ thông nội trú liên cấp tại 07 xã biên giới, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và thu hẹp khoảng cách giữa các vùng.
    Về văn hóa - thể thao: Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả ở một số địa phương. Tiếp tục tổ chức Chương trình “Cồng chiêng cuối tuần - Thưởng thức và Trải nghiệm” vào lúc 19h00 - 21h00 thứ Bảy hàng tuần. Đây là hoạt động thiết thực góp phần thực hiện Chương trình hành động quốc gia đã cam kết với UNESCO về bảo tồn và phát huy có hiệu quả giá trị di sản văn hóa phi vật thể Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Tổ chức Hội thảo quốc tế “Kết nối miền cao: Vai trò của miền Trung trong tiến trình hình thành Việt Nam toàn cầu”.
    Triển khai xây dựng Kế hoạch tổ chức môn Bóng đá nam và Bóng chuyền trong Chương trình Đại hội Thể thao tỉnh Gia Lai lần thứ I; kế hoạch đăng cai tổ chức Giải Cờ vua tướng miền Trung và Tây Nguyên mở rộng lần thứ VIII năm 2026. Bên cạnh đó đã phối hợp đăng cai tổ chức Giải vô địch các Câu lạc bộ Võ cổ truyền quốc gia lần thứ XV năm 2026 tại Gia Lai.
    Về y tế: Cụ thể hóa Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trên địa bàn tỉnh làm cơ sở tổ chức triển khai thực hiện như: Kế hoạch số 06-KH/TU ngày 20/10/2025 của Tỉnh uỷ; Nghị quyết số 94/NQ-HĐND ngày 09/12/2025 của HĐND tỉnh về việc thông qua Đề án Phát triển hệ thống y tế tỉnh Gia Lai đến năm 2030; Kế hoạch số 48/KH-UBND ngày 04/02/2026 của UBND tỉnh thông qua Đề án Phát triển hệ thống y tế tỉnh Gia Lai đến năm 2030.
    Công tác phòng, chống dịch bệnh được tập trung triển khai kịp thời theo hướng chủ động, sát tình hình, bám cơ sở, lấy phòng bệnh là trọng tâm, phát hiện sớm, tham mưu sớm, xử lý kịp thời. Tăng cường giám sát các bệnh truyền nhiễm lưu hành, bệnh mới nổi, tái nổi; củng cố hệ thống giám sát từ tuyến tỉnh đến tuyến xã. phường; Chuẩn bị sẵn sàng nhân lực, vật tư, hóa chất, phương tiện, đội đáp ứng nhanh và phương án xử lý dịch theo phương châm “4 tại chỗ”. Tình hình dịch bệnh trên địa bàn cơ bản được kiểm soát, không để xảy ra dịch lớn.
    Xây dựng kế hoạch triển khai khám sức khỏe định kỳ cho người dân trên địa bàn tỉnh Gia Lai năm 2026 – 2027, kế hoạch tổ chức khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho tất cả người dân tại 12 xã biên giới, hải đảo, xã đặc biệt khó khăn.
    Thường xuyên chỉ đạo, giám sát, kiểm tra các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh triển khai thực hiện, tuân thủ các quy trình chuyên môn, kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải tiến quy trình khám bệnh; triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ và cải thiện các điều kiện phục vụ sinh hoạt của người bệnh; nâng cao tinh thần trách nhiệm và phong cách, thái độ phục vụ của nhân viên y tế, đi đôi với đảm bảo vệ sinh môi trường và tạo dựng cảnh quan cơ sở y tế “xanh, sạch, đẹp” hướng tới sự hài lòng của người bệnh. Duy trì thường xuyên hoạt động truyền thông về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và giám sát các nguy cơ ô nhiễm thực phẩm trong cộng đồng, kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm vi phạm về an toàn thực phẩm
    Về an sinh xã hội: Công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách tiếp tục được thực hiện. Thực hiện chi trả kịp thời, đúng, đủ trợ cấp người có công với cách mạng, các cơ quan, đơn vị nhận phụng dưỡng các bà Mẹ Việt Nam Anh hùng tổ chức thăm, tặng quà các Mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống. Nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, các hoạt động tri ân được tổ chức trang trọng, ý nghĩa, đúng quy định.
    Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em tiếp tục được quan tâm, triển khai thực hiện. Trong đó, tập trung đẩy mạnh thực hiện các nội dung thuộc Chương trình phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em; Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em; Chương trình Bảo vệ trẻ em...; tổ chức thăm và tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nhân các dịp lễ.
    7. Về khoa học, công nghệ, thông tin truyền thông: 
    Tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai các nhiệm vụ theo Kế hoạch số 42-KH/TU ngày 12/02/2026 của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2026. Phối hợp tổ chức “Cuộc thi Hackathon quốc tế Điện toán Lượng tử vì Mục tiêu Phát triển Xã hội - Gia Lai 2026” (là cuộc thi lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam). 
    Hoàn thiện dự thảo Kế hoạch triển khai Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo (đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045); thực hiện rà soát, sửa đổi, xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách đặc thù của tỉnh để hỗ trợ, thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp chuyển đổi số toàn diện, hiệu quả; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạt động thu hút các doanh nghiệp số đầu tư vào tỉnh.
    Tiếp tục tập trung tuyên truyền chủ trương về thúc đẩy sản xuất; chống kinh doanh, sản xuất hàng giả; chống buôn lậu, kiểm soát giá cả thị trường, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, ngăn ngừa các thông tin sai lệch gây tác động xấu đến sản xuất kinh doanh và tâm lý người tiêu dùng.
    Tỉnh từng bước xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số và nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) là những động lực tăng trưởng mới, bổ sung cho các động lực truyền thống trong giai đoạn 2026-2030.

 
    Nguyễn Thị Bình – Phòng Tổng hợp