Ngày 20/5/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 893/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực quản lý nhà nước, nghiên cứu - phát triển, ứng dụng và hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử”. Đây là một bước đi chiến lược mang tính then chốt, không chỉ định hình diện mạo ngành hạt nhân nước nhà trong những thập kỷ tới mà còn đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ cụ thể đối với các địa phương, trong đó có tỉnh Gia Lai.
1. Tư duy chiến lược và quan điểm phát triển toàn diện
Đề án xác định rõ quan điểm: Phát triển nguồn nhân lực năng lượng nguyên tử là nhiệm vụ trọng tâm, then chốt, giữ vai trò quyết định trong việc làm chủ công nghệ và tự chủ chiến lược. Công tác này phải được triển khai đồng bộ với quy hoạch ngành, gắn liền với khung năng lực tương ứng với từng vị trí việc làm và đáp ứng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn đầu ra về an toàn bức xạ, an toàn hạt nhân và an ninh hạt nhân.

Đặc biệt, Chính phủ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tạo lợi thế cạnh tranh trong thu hút, trọng dụng nhân tài chất lượng cao; đồng thời thúc đẩy hợp tác, hội nhập quốc tế sâu rộng với Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) và các quốc gia tiên tiến để nhanh chóng tiếp thu tri thức hiện đại.
2. Mục tiêu của Đề án: Từ chuẩn hóa đến làm chủ công nghệ
Thay vì cách tiếp cận phân tán, Đề án quy hoạch mục tiêu theo một lộ trình tổng thể qua ba giai đoạn chiến lược, hướng đến sự phát triển cân bằng giữa quản lý, nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật và ứng dụng thực tiễn.
a) Giai đoạn đến năm 2030: Kiện toàn bộ máy và chuẩn hóa năng lực
- Về quản lý nhà nước: Phấn đấu đạt tỷ lệ 100% nhân lực quản lý nhà nước từ trung ương đến địa phương được bồi dưỡng toàn diện, đủ năng lực thực thi nhiệm vụ chuyên môn. Đối với cơ quan an toàn bức xạ và hạt nhân quốc gia, nâng cao năng lực chuyên sâu phục vụ xây dựng thể chế và tích lũy kinh nghiệm tại các tổ chức quốc tế để hình thành đội ngũ chuyên gia nòng cốt.
- Về hỗ trợ kỹ thuật và ứng dụng: Chuẩn hóa 100% nhân lực hỗ trợ kỹ thuật thuộc các bộ, ngành và cơ quan quản lý nhà nước phục vụ công tác thanh tra, quan trắc môi trường và ứng phó sự cố. Đồng thời, bảo đảm 100% nhân viên bức xạ tại các cơ sở kinh tế - xã hội được đào tạo an toàn theo đúng quy định pháp luật.
b) Giai đoạn đến năm 2035: Tự chủ chuyên sâu và hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh
- Nâng cao năng lực độc lập của cơ quan quản lý, hướng tới tự chủ 70% năng lực thẩm định các dự án điện hạt nhân và làm chủ 100% đối với các dự án lò phản ứng nghiên cứu.

- Phát triển đội ngũ nghiên cứu tinh hoa, hình thành từ 04 đến 05 nhóm nghiên cứu mạnh có khả năng làm chủ công nghệ nhiên liệu hạt nhân, công nghệ chế biến đất hiếm và các dự án điện hạt nhân mô-đun nhỏ.
c) Tầm nhìn đến năm 2050: Hệ sinh thái hạt nhân tiên tiến và hội nhập toàn cầu
- Hướng tới một nền quản lý thường xuyên, hiệu quả; lực lượng chuyên gia hạt nhân Việt Nam không chỉ đáp ứng tối đa nhu cầu nội địa mà còn có khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, cung cấp dịch vụ đào tạo và kỹ thuật ở tầm khu vực và quốc tế.
- Phát triển một hệ sinh thái đào tạo quốc gia tự vận hành, làm chủ toàn diện kỹ thuật hạt nhân tiên tiến trong y tế, công nghiệp, nông nghiệp và môi trường để đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế - xã hội.
3. Nhiệm vụ, giải pháp đột phá và mô hình đào tạo đa dạng
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Thủ tướng Chính phủ đã đề ra các giải pháp toàn diện và giao trách nhiệm cụ thể cho các Bộ, ngành trung ương:
- Bộ Khoa học và Công nghệ: Chủ trì điều tra nhu cầu hằng năm, ban hành khung năng lực, xây dựng cơ sở dữ liệu nhân lực quốc gia gắn liền với vận hành Nền tảng số chuyên ngành, đồng thời nghiên cứu đề xuất các chính sách đãi ngộ, thu hút nhân tài đặc thù.
- Mô hình đào tạo đa tầng: Kết hợp linh hoạt từ bồi dưỡng ngắn hạn, nâng cao, chuyên sâu đến đào tạo sau đại học và đào tạo tại chỗ. Tập trung đầu tư trọng điểm vào các cơ sở đào tạo lớn của đất nước như Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Đại học Đà Lạt và Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam.

- Đa dạng hóa nguồn lực tài chính: Kinh phí thực hiện được lồng ghép linh hoạt giữa ngân sách nhà nước (bao gồm chi cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số) và các nguồn vốn hợp pháp khác từ xã hội hóa, hợp tác quốc tế, các đối tác công nghệ.
4. Trách nhiệm của địa phương và định hướng của tỉnh Gia lai
Quyết định số 893/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định rõ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Đối với tỉnh Gia Lai – địa phương đang đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao và hiện đại hóa hệ thống y tế – việc quán triệt và triển khai Quyết định 893/QĐ-TTg mang một ý nghĩa thực tiễn sâu sắc thông qua các nhóm nhiệm vụ trọng tâm sau:
- Chủ động rà soát, xác định nhu cầu và lập kế hoạch: Các cơ quan chuyên môn trên địa bàn tỉnh cần phối hợp chặt chẽ để khảo sát thực trạng, xác định chính xác nhu cầu bồi dưỡng nhân lực quản lý nhà nước về an toàn bức xạ. Từ đó, lập danh sách cán bộ tham gia các chương trình bồi dưỡng theo kế hoạch chung, bảo đảm chuẩn hóa năng lực quản lý tại địa phương.
- Đẩy mạnh ứng dụng an toàn và nâng cao nhận thức cộng đồng: Phối hợp chặt chẽ với các Bộ chuyên ngành để cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo chuyên sâu về ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong chẩn đoán, điều trị y tế và các kỹ thuật chiếu xạ, đột biến giống, quan trắc bảo vệ môi trường nông nghiệp. Bên cạnh đó, cần chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức tại các trường học và cộng đồng để xây dựng văn hóa an toàn, an ninh bức xạ bền vững.
- Bố trí và cân đối nguồn lực tài chính hiệu quả: Với vai trò tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh về quản lý, điều hành ngân sách địa phương, Sở Tài chính tỉnh Gia Lai sẽ chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan rà soát, tham mưu bố trí kinh phí hợp lý trong dự toán ngân sách địa phương hằng năm theo khả năng cân đối ngân sách địa phương để thực hiện các nhiệm vụ bồi dưỡng. Đồng thời, tích cực nghiên cứu cơ chế lồng ghép nguồn vốn, huy động xã hội hóa và các nguồn tài trợ hợp pháp nhằm tối ưu hóa hiệu quả sử dụng ngân sách, bảo đảm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trên địa bàn tỉnh.
Người viết bài
Đặng Công Hảo - Phòng Quản lý ngành