Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2026 trên địa bàn tỉnh
Bài đăng vào lúc: 10:19:59, ngày: 28/10/2026 GMT +7
1. Về phát triển kinh tế
a) Về sản xuất nông, lâm, thủy sản, quản lý tài nguyên và môi trường
Trong 9 tháng năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục duy trì ổn định, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Các địa phương tập trung hoàn thành sản xuất vụ Đông Xuân, vụ Hè Thu và triển khai vụ Mùa; phát triển chăn nuôi gắn với kiểm soát dịch bệnh; tăng cường quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Công tác quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường, thủy lợi và phòng, chống thiên tai được tăng cường; từng bước tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về đất đai, nguồn vật liệu xây dựng phục vụ các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh.
- Về trồng trọt: Tổng diện tích cây hàng năm chính ước đạt 452.184 ha, đạt 99,7% kế hoạch (viết tắt KH), tăng 12,5% so với cùng kỳ (viết tắt CK); tổng sản lượng đạt 3.824.205 tấn, đạt 48,6% KH và tăng 123% CK. Tổng diện tích cây công nghiệp dài ngày ước đạt 252.307 ha, đạt 100,5% KH, giảm 0,4% CK; tổng sản lượng đạt 229.865 tấn, đạt 34% KH và tăng 3,3% CK. Tổng diện tích cây ăn quả ước đạt 32.789 ha, đạt 98,4% KH, tăng 4% CK; tổng sản lượng đạt 499.926 tấn, đạt 73,4% KH và tăng 33,7% CK. Toàn tỉnh đã thực hiện chuyển đổi khoảng 5.042,6 ha diện tích cây trồng kém hiệu quả chuyển sang cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu, phù hợp với nhu cầu thị trường, đạt 61,9% KH. Đến nay, toàn tỉnh hiện có 497 mã số vùng trồng, với tổng diện tích 13.174,23 ha, trong đó 113 mã số vùng trồng phục vụ thị trường trong nước, với diện tích 630,89 ha và 384 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu, với diện tích 12.712,01 ha. Ngoài ra, có 61 mã số cơ sở đóng gói xuất khẩu sang Trung Quốc, công suất từ 3.570 - 3.840 tấn quả tươi/ngày. Toàn tỉnh hiện có khoảng 226 chuỗi liên kết liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm/diện tích 253.100 ha.
- Về chăn nuôi: Công tác quản lý kiểm soát chăn nuôi, phát triển tái đàn gắn với phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tăng cường. Giá lợn thường xuyên ở mức cao, tạo điều kiện cho người chăn nuôi tích cực tái đàn phát triển sản xuất chăn nuôi. Đàn vật nuôi tiếp tục tăng trưởng đảm bảo kế hoạch và tăng so với cùng kỳ, cụ thể: Đàn bò đạt 801.543 con, đạt 96,6% KH, tăng 1,2% CK. Đàn lợn đạt 1.842.351 con, đạt 89,2% KH, tăng 13,2% CK. Đàn gia cầm đạt 18.839.500 con, đạt 95,4% KH, tăng 1,2% CK. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 3 loại vật nuôi chủ lực Quý III ước đạt 124.085 tấn, tăng 12,2% CK; lũy kế 9 tháng ước đạt 380.640 tấn, đạt 65,4% KH, tăng 7,2% CK.
Đến nay, tỉnh đã thu hút được 311 dự án đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi (Đông Gia Lai 37 dự án, Tây Gia Lai 274 dự án), với tổng diện tích 13.780 ha, tổng vốn đầu tư xây dựng 68.100 tỷ đồng. Toàn tỉnh hiện có 1.222 trang trại, dự án chăn nuôi hoạt động gồm: 84 dự án chăn nuôi và 1.138 cơ sở chăn nuôi theo quy mô trang trại; chăn nuôi theo hình thức công nghiệp, trang trại chiếm 33%; có 07 chuỗi liên kết giữa các doanh nghiệp với người chăn nuôi, với tổng 212 trại liên kết và 13 hợp tác xã liên kết với các hộ sản xuất theo chuỗi; có 25 cơ sở chăn nuôi được chứng nhận theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.
- Về lâm nghiệp: Công tác kiểm tra, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, nhất là những vùng trọng điểm, có nguy cơ cháy rừng cao; thường xuyên theo dõi cấp dự báo cháy rừng; tổ chức tuần tra, kiểm soát, truy quét, ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản được tăng cường có hiệu quả; từ đầu năm đến nay xảy ra 06 vụ cháy rừng; diện tích thiệt hại 226,2 ha (tăng 04 vụ CK); phát hiện, bắt giữ 230 vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp (tăng 10 vụ CK). Đã xử lý 128 vụ vi phạm (115 vụ vi phạm hành chính và 13 vụ vi phạm hình sự), đang xác minh, xử lý 102 vụ.
Công tác sử dụng và phát triển rừng tiếp tục được quan tâm. Trong 9 tháng đã trồng được 15.375 ha rừng tập trung, đạt 36% KH, tăng gấp đôi cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác đạt trên 2,2 triệu m3, đạt 85% KH, tăng 20% CK (do tập trung khai thác và phục hồi diện tích rừng bị thiệt hại do thiên tai cuối năm 2025).
- Về thủy sản: Từ đầu năm đến nay, thời tiết biển tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác thủy sản; hoạt động sản xuất nuôi trồng thuỷ sản được quan tâm chú trọng đầu tư. Tổng sản lượng thuỷ sản Quý III ước đạt 92.036 tấn; luỹ kế 9 tháng ước đạt 248.060 tấn, đạt 79% KH, tăng 2,6% CK.
Tỉnh đã chỉ đạo tập trung mọi nguồn lực để chuẩn bị nội dung, hồ sơ và hiện trường làm việc với Đoàn Thanh tra của Ủy ban Châu Âu (EC) lần thứ 5; tổ chức Đoàn công tác liên ngành kiểm tra, xử lý các tồn tại, hạn chế trong thực hiện nhiệm vụ chống khai thác IUU của các tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn tỉnh; thực hiện quy trình kiểm soát tàu cá cập, rời cảng, giám sát sản lượng và truy xuất nguồn gốc thủy sản; rà soát, cập nhật dữ liệu trên các hệ thống VNFishbase, eCDT và VMS.
Tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả các Chính sách hỗ trợ khai thác thuỷ sản trên địa bàn tỉnh. Trong đó, đã phê duyệt 3.556 hồ sơ hỗ trợ khai thác hải sản trên các vùng biển xa theo Quyết định 48/2010/QĐ-TTg với tổng kinh phí 316.865 triệu đồng, góp phần hỗ trợ ngư dân duy trì sản xuất; tổ chức thẩm định hồ sơ đề nghị hỗ trợ giải bản 367 tàu cá, tổng kinh phí hơn 51.276 triệu đồng; phê duyệt hỗ trợ 275 tàu cá, với số tiền hơn 50.973 triệu đồng. Ban hành Quyết định hỗ trợ ổn định đời sống đối với các hộ ngư dân có tàu cá bị thiệt hại do hỏa hoạn tại Khu neo đậu tránh trú bão Tam Quan (08 tàu) và tại Đầm Thị Nại (16 tàu).
- Triển khai đồng bộ, hiệu quả công tác phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới: xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ cà phê, chanh leo, mía bền vững; tham mưu Phương án bố trí, ổn định dân cư vùng thiên tai giai đoạn 2026–2030 và đẩy nhanh 16 dự án bố trí dân cư vùng thiên tai; tham mưu xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách phục vụ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia; ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, liên kết tiêu thụ sản phẩm và phát triển ngành nghề nông thôn, giải ngân vốn và nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP.
- Về quản lý đất đai: Ban hành 13 văn bản QPPL trong lĩnh vực đất đai góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai sau sáp nhập tỉnh; triển khai các quy định mới của Trung ương về đất đai; các quyết định phân cấp, ủy quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai cho cấp xã và Ban Quản lý Khu kinh tế; kiểm tra việc sử dụng đất đối với các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh; tập trung giải quyết các thủ tục giao, thuê, chuyển mục đích và nhận chuyển quyền sử dụng đất; xử lý các vướng mắc về GPMB, giá đất; triển khai đấu giá đất. Đẩy mạnh làm sạch CSDL đất đai, triển khai thực nghiệm đo đạc bằng UAV.
- Về quản lý khoáng sản, tài nguyên nước: Công tác quản lý khoáng sản, tài nguyên nước tiếp tục được tăng cường; tập trung rà soát, tháo gỡ khó khăn về nguồn vật liệu xây dựng, nhất là phục vụ các công trình, dự án trọng điểm. Tỉnh đã tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản đối với 52 khu vực mỏ; triển khai thí điểm cấp phép khoáng sản tại 65 xã, phường, gắn với tăng cường phân cấp, ủy quyền, kiểm tra và giám sát hoạt động khai thác. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong giám sát, quản lý khoáng sản, tài nguyên nước; thực hiện các nhiệm vụ kiểm kê tài nguyên nước và xây dựng hệ thống cảnh báo lũ trên các lưu vực sông.
- Về bảo vệ môi trường: Ban hành quy định đặc điểm kinh tế - kỹ thuật đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt và dịch vụ vệ sinh công cộng; mức giá cụ thể dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Kiểm tra, xử lý các điểm và cơ sở có nguy cơ ô nhiễm; tăng cường công tác kiểm soát, giám sát chặt chẽ các nguồn thải và đảm bảo vệ sinh môi trường; theo dõi, giám sát số liệu quan trắc nước thải và khí thải tự động, liên tục từ các cơ sở sản xuất trên phần mềm tiếp nhận số liệu quan trắc tự động; tiếp nhận và xử lý thông tin về ô nhiễm môi trường.
- Về thuỷ lợi, phòng chống thiên tai: Ban hành các văn bản về cơ chế, chính sách và quản lý nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi, đê điều, phòng chống thiên tai như: các nghị quyết về hỗ trợ kiên cố hóa kênh mương, duy tu đê điều; các quy định về phân cấp quản lý, khai thác công trình thủy lợi; lực lượng quản lý đê nhân dân; kế hoạch phát triển thủy lợi và nước sạch nông thôn giai đoạn 2026–2030 và phương án ứng phó thiên tai năm 2026. Theo dõi nguồn nước, an toàn hồ đập; triển khai các giải pháp phòng, chống hạn hán, thiếu nước vào mùa khô; triển khai cảnh báo lũ thông minh, tiêu thoát lũ sông Hà Thanh.
b) Về sản xuất công nghiệp và xây dựng
- Về sản xuất công nghiệp: Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì tăng trưởng, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò động lực chủ yếu; nhiều doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, mở rộng thị trường, khai thác công suất và đưa các dự án mới vào hoạt động. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ, Quý III dự ước tăng khoảng 8,98% so với cùng kỳ, tính chung trong 9 tháng năm 2026, IIP dự ước tăng 9,03% so với cùng kỳ; trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 5,08%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,70%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 3,88%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 6,35%.
Các cụm công nghiệp (CNN) trên địa bàn tỉnh tiếp tục kêu gọi thu hút đầu tư, xây dựng nhà xưởng và hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh tạo việc làm, tăng thu nhập và an sinh xã hội. Trong 9 tháng đầu năm, UBND tỉnh quyết định thành lập 13 CCN với diện tích 951 ha, mở rộng 03 CCN với diện tích 147,3 ha. Đến nay, có 75/175 CCN với tổng diện tích 3.486,5 ha được quyết định thành lập vượt mục tiêu đề ra (mục tiêu 72 CCN).
Từ đầu năm đến nay đã thu hút 26 dự án (đạt 96% KH) đầu tư vào cụm công nghiệp với tổng vốn đầu tư 3.611 tỷ đồng, tổng diện tích 77,8 ha. Tính đến nay, đã thu hút 493 dự án đăng ký đầu tư vào CCN với tổng vốn đầu tư 25.663 tỷ đồng, tổng diện tích 960 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy bình quân các CCN đã đi vào hoạt động 82%.
Trong Quý III có 21 dự án sản xuất công nghiệp với tổng vốn đầu tư 7.850 tỷ đồng đi vào hoạt động. Lũy kế đến nay có 79 dự án (đạt 70,54% KH) với tổng vốn đầu tư 16.683 tỷ đồng đi vào hoạt động; trong đó, có 16 dự án trọng điểm với tổng vốn đầu tư 15.311 tỷ đồng.
Các chương trình khuyến công, tư vấn phát triển công nghiệp tiếp tục được quan tâm triển khai thực hiện. Hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề tiếp tục phát triển ổn định. Các sản phẩm của các làng nghề đã đáp ứng phần lớn nhu cầu tiêu dùng của người dân trong tỉnh.
- Về xây dựng - quy hoạch: Hoạt động quản lý đầu tư xây dựng, vật liệu xây dựng, quy hoạch – kiến trúc và phát triển đô thị tiếp tục được tăng cường. Công tác thẩm định dự án, thiết kế xây dựng, kiểm tra nghiệm thu công trình được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định, góp phần nâng cao chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Tiếp tục triển khai Chương trình phát triển đô thị tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030; tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW, Kết luận số 224-KL/TW và Chương trình hành động của tỉnh về phát triển đô thị bền vững. Ban hành Kế hoạch phát triển nhà ở tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 – 2030. Hoàn thành phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Gia Lai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
c) Về thương mại, dịch vụ, tài chính
- Về thương mại: Trong quý III, thị trường trên địa bàn tỉnh sôi động do đây là thời điểm bước vào mùa du lịch hè và các dịp Lễ lớn, hoạt động thương mại, dịch vụ ghi nhận những tín hiệu tích cực. Cung cầu hàng hoá đảm bảo, hàng hoá phong phú, đa dạng, không có hiện tượng sốt giá, khan hiếm hàng xảy ra trên địa bàn tỉnh. Các hoạt động xúc tiến thương mại, khuyến mại, giảm giá được tổ chức thường xuyên. Công tác bình ổn thị trường được quan tâm và tích cực triển khai đã đem lại kết quả tốt, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân và tạo được sự ổn định cho thị trường hàng hoá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh quý III ước đạt khoảng 63.168 tỷ đồng, tính chung 9 tháng năm 2026 ước đạt 171.774,3 tỷ đồng, đạt 78,08% KH, tăng 15,28% CK.
Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tội phạm buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn tỉnh tiếp tục được đẩy mạnh.
- Về xuất, nhập khẩu: Hoạt động ngoại thương mặc dù chịu tác động đồng thời từ sự điều chỉnh chính sách thương mại của Hoa Kỳ và những diễn biến căng thẳng tại khu vực Trung Đông nhưng nhờ việc đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối giao thương, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ, triển lãm quốc tế nhằm mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sang các khu vực tiềm năng như ASEAN, Nam Á, Nam Mỹ và châu Phi, giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống. Hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định và có nhiều tín hiệu tích cực. Trong quý III là thời điểm chuẩn bị bước vào mùa thu hoạch và tiêu thụ các mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh như cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và các nông sản chế biến, cùng với gỗ, sản phẩm gỗ, dệt may và thủy sản. Kim ngạch xuất khẩu trên toàn tỉnh quý III ước đạt 810 triệu USD, tính chung trong 9 tháng ước đạt 2.940 triệu USD, đạt 84% KH, tăng 6,8% CK. Kim ngạch nhập khẩu trên toàn tỉnh quý III ước đạt 241,8 triệu USD, tính chung trong 9 tháng ước đạt 798,37 triệu USD, đạt 72,58% KH, tăng 10,6% CK.
- Về vận tải: 9 tháng đầu năm, dịch vụ vận chuyển hành khách ước đạt 76,398 triệu hành khách, tăng 24,2% so với cùng kỳ và luân chuyển 10.284 triệu hành khách.km, tăng 27,5% so với cùng kỳ. Vận chuyển hàng hoá ước đạt 47,815 triệu tấn, tăng 15,2% so với cùng kỳ; luân chuyển 7.190 triệu tấn.km, tăng 18,7% so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải 9 tháng ước đạt 17.461 tỷ đồng, tăng 21,1% so với cùng kỳ.
- Về du lịch: Tỉnh đã tổ chức nhiều sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch quy mô quốc gia và quốc tế, nổi bật như Lễ khai mạc Năm Du lịch quốc gia - Gia Lai 2026, Lễ hội Du lịch hè “Gia Lai - Điểm đến kỳ thú”, Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam lần thứ IX, Ngày Lữ hành Việt Nam và Diễn đàn Lữ hành quốc tế năm 2026, VnExpress Marathon Quy Nhơn 2026 cùng nhiều lễ hội, ngày hội du lịch tại các địa phương. Qua đó, hình ảnh và thương hiệu du lịch Gia Lai tiếp tục được quảng bá rộng rãi, từng bước hình thành không gian du lịch liên kết giữa biển Quy Nhơn và đại ngàn Tây Nguyên, góp phần thúc đẩy các ngành lưu trú, ăn uống, vận tải, thương mại và dịch vụ phát triển. Trong Quý III, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Ước tính toàn tỉnh đón khoảng 4,755 triệu lượt khách du lịch, tăng 25,3% CK. Lũy kế 9 tháng đầu năm, toàn tỉnh ước đón 13,51 triệu lượt khách du lịch, đạt 90% KH, tăng khoảng 25,0% CK. Trong Quý III, tổng thu từ khách du lịch ước đạt 10.200 tỷ đồng, tăng 26% CK. Lũy kế 9 tháng đầu năm, tổng thu từ khách du lịch ước đạt 29.210 tỷ đồng, đạt 83,5% KH, tăng khoảng 24,6% CK.
Bên cạnh tổ chức tốt các sự kiện, sản phẩm du lịch mới, ngành du lịch đã tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành quy định trong hoạt động kinh doanh du lịch tại các khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú; kiểm tra hoạt động vận tải khách du lịch và hoạt động của hướng dẫn viên du lịch; tạo hình ảnh về một không gian đẹp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút du khách trong và ngoài nước.
- Về thu chi ngân sách: Ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo thực hiện các biện pháp chủ yếu điều hành dự toán ngân sách địa phương năm 2026 trên địa bàn tỉnh, tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, tạo nguồn thu ổn định, vững chắc cho ngân sách. UBND tỉnh đã xây dựng kịch bản thu ngân sách nhà nước năm 2026 cụ thể theo từng quý đồng thời phấn đấu thu ngân sách nhà nước tăng từ 27.871 tỷ đồng lên 32.297 tỷ đồng.
Tổng thu ngân sách nhà nước 9 tháng đầu năm 2026 ước thực hiện 21.600 tỷ đồng, đạt 77,5% dự toán năm, tăng 3,8% CK. Trong đó: Thu lõi (thu nội địa trừ tiền sử dụng đất; thu cổ tức và lợi nhuận sau thuế, XSKT) thực hiện là 14.274 tỷ đồng, đạt 93,5% dự toán năm, tăng 36,1% so với cùng kỳ; thu tiền sử dụng đất thực hiện 6.095 tỷ đồng, đạt 53,5% dự toán năm, giảm 35,7% so với cùng kỳ (nguyên nhân đạt thấp chủ yếu là do xác định giá đất, hoàn thiện thủ tục pháp lý, giải phóng mặt bằng và đấu giá quyền sử dụng đất còn chậm; một số dự án đấu giá không thành công, nhà đầu tư khó khăn về vốn và thực hiện nghĩa vụ tài chính); thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu là 664 tỷ đồng, đạt 131,2% dự toán năm, tăng 75,5% so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách địa phương thực hiện 9 tháng đầu năm là 39.580 tỷ đồng, đạt 65,4% dự toán năm.
- Về hoạt động tài chính, tín dụng: tiếp tục thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về lãi suất huy động và cho vay; triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời và có hiệu quả các giải pháp, cơ chế, chính sách của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Đến ngày 30/9/2026, tổng nguồn vốn huy động tại địa phương là 234.700 tỷ đồng, tăng 10,2% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ là 291.000 tỷ đồng, tăng 11,7% so với cuối năm 2025; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ 1,55%.
d) Về thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển
- Đầu tư toàn xã hội: Tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh quý III đạt 26.585 tỷ đồng, tăng 17,3% so với cùng kỳ. Luỹ kế 9 tháng đạt 59.178,2 tỷ đồng, tăng 6,3% so với cùng kỳ (Trong đó, vốn Nhà nước đạt 19.588,8 tỷ đồng, tăng 0,1%; vốn ngoài Nhà nước đạt 38.447,3 tỷ đồng, tăng 9,6%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 1.142,1 tỷ đồng, tăng 13,7%).
- Đầu tư công: Tổng kế hoạch vốn năm 2026 tỉnh Gia Lai (kể cả vốn kéo dài) là 30.334 tỷ đồng (đã bao gồm nguồn tăng thu ngân sách trung ương năm 2025 là 9.100 tỷ đồng và nguồn hỗ trợ năm 2026 thực hiện khắc phục hậu quả, phòng, chống thiên tai là 1.834 tỷ đồng) Trong đó: Kế hoạch vốn năm 2026 là 28.791 tỷ đồng; Kế hoạch vốn kéo dài là 1.553 tỷ đồng. Ngay từ đầu năm, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành các quyết định phân bổ và giao bộ kế hoạch đầu tư công cho từng chủ đầu tư để các đơn vị, địa phương chủ động triển khai hiệu quả các dự án đầu tư xây dựng cơ bản. Tiếp tục đẩy mạnh huy động các nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu chi đầu tư phát triển, tập trung xây dựng hoàn thành các công trình trọng điểm của tỉnh.
Tính đến ngày 30/9/2026, giá trị giải ngân vốn đầu tư công do tỉnh quản lý đạt 19.333 tỷ đồng (Trong đó: Kế hoạch vốn năm 2026 là 18.192 tỷ đồng; Kế hoạch vốn kéo dài là 1.141 tỷ đồng), đạt 70,47% so với Kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, đạt 63,71% so với Kế hoạch Hội đồng nhân dân giao kể cả vốn kéo dài. Trong đó: (i) Vốn ngân sách tỉnh đạt 45,79%, (ii) Vốn ngân sách trung ương (bao gồm vốn ODA) đạt 77,24%, (iii) Vốn ngân sách phân cấp xã, phường thực hiện giải ngân 1.714 tỷ đồng, đạt 71,6%.
Tuy nhiên, kết quả giải ngân nêu trên vẫn chưa phản ánh sát thực tế triển khai của tỉnh, vì thực tế, tiến độ giải ngân nguồn thu tiền sử dụng đất phụ thuộc trực tiếp vào tiến độ thu tiền sử dụng đất phát sinh trong năm. Hiện nay, khối lượng dự kiến có thể giải ngân thêm trong trường hợp đảm bảo nguồn thu tiền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh đến nay là 1.349 tỷ đồng. Trường hợp tính khối lượng giải ngân dự kiến có thể tăng thêm nêu trên, tổng giá trị giải ngân của tỉnh đạt 75,7% so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao và đạt 68,2% so với Kế hoạch HĐND tỉnh giao.
Theo số liệu ghi nhận của Bộ Tài chính tính đến hết ngày 30/9/2026, tỉnh Gia Lai đạt 58,8%, xếp thứ 21/34 (tuy nhiên, trong đó không bao gồm Nguồn tăng thu ngân sách trung ương năm 2025 bổ sung cho Cao tốc Quy Nhơn - Pleiku là 9.100 tỷ đồng và Nguồn hỗ trợ năm 2026 thực hiện khắc phục hậu quả, phòng chống thiên tai là 1.834 tỷ đồng theo ý kiến của Bộ Tài chính tại Văn bản số 15207/BTC-PTHT ngày 25/9/2026; về vấn đề này, tỉnh sẽ tiếp tục làm việc với Bộ Tài chính để xem xét ghi nhận vì 2 nguồn vốn nêu trên đều được NSTW bổ sung giao tỉnh thực hiện quy trình đầu tư công thuộc kế hoạch vốn năm 2026 và đến nay đã có kết quả giải ngân tích cực và tác động lớn đến kết quả giải ngân chung của tỉnh).
Trong năm 2026, kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ và HĐND tỉnh giao thực hiện được điều chỉnh, bổ sung nhiều đợt so với thời điểm đầu năm:
- So với Kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao: Kế hoạch vốn tổng cộng tăng 12.634 tỷ đồng (tương đương tăng 95,84%). Trường hợp so sánh với kế hoạch giao đầu năm, tỷ lệ giải ngân của tỉnh đạt 138,00% (18.192/13.183 tỷ đồng).
- So với Kế hoạch HĐND tỉnh giao: Kế hoạch vốn tổng cộng tăng 17.064 tỷ đồng (tương đương tăng 128,49%). Trường hợp so sánh với kế hoạch giao đầu năm, tỷ lệ giải ngân của tỉnh đạt 145,58% (19.333/13.280 tỷ đồng).
Trong năm 2026, tỉnh Gia Lai tiếp tục triển khai thi công nhiều dự án trọng điểm có quy mô lớn, góp phần tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho tỉnh trong thời gian tới, cụ thể: 02 dự án thuộc nhóm dự án quan trọng Quốc gia là Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Quy Nhơn – Pleiku và Dự án Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam (đoạn qua địa bàn tỉnh Gia Lai); các dự án trọng điểm khác của tỉnh như: Dự án đầu tư xây dựng đường cất hạ cánh số 2 và các công trình đồng bộ tại khu bay Cảng hàng không Phù Cát; các tuyến đường kết nối từ cao tốc Bắc – Nam đến Khu công nghiệp Phù Mỹ và Bến cảng Phù Mỹ; tuyến đường nối từ Quốc lộ 1 đến đường ven biển ĐT.639 kết nối Cảng Đề Gi; tiếp tục đầu tư đường hành lang kinh tế phía Đông (đường tránh Quốc lộ 19), đường tỉnh 669, đường liên huyện Mang Yang – Ia Pa và tuyến đường ven biển (ĐT.639), đoạn Mỹ Thành - Lại Giang... Đồng thời, tỉnh ưu tiên đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, khu đô thị, khu tái định cư, các dự án năng lượng và hạ tầng truyền tải điện, cùng các công trình y tế, giáo dục, thủy lợi và cấp nước sinh hoạt, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế – xã hội và tăng cường liên kết vùng trong giai đoạn 2026- 2030.
đ) Về thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp
Công tác xúc tiến, thu hút đầu tư tiếp tục được đẩy mạnh. Nổi bật, tỉnh đã tổ chức thành công Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh Gia Lai năm 2026 với sự tham dự của khoảng 800 doanh nghiệp trong và ngoài nước; trao quyết định, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư cho 273 dự án với tổng vốn đăng ký và dự kiến đầu tư gần 850.000 tỷ đồng. Đồng thời, tỉnh đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư quốc tế thông qua Hội nghị xúc tiến đầu tư song phương Gia Lai - Stung Treng (Campuchia), Hội thảo xúc tiến đầu tư với Hiệp hội Thương mại Đài Loan tại Việt Nam và chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch tại Bồ Đào Nha, Đức. Qua đó, tiếp tục quảng bá tiềm năng, lợi thế, mở rộng mạng lưới đối tác và thu hút các dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên của tỉnh.
Trong quý III toàn tỉnh thu hút mới 53 dự án, tổng vốn đầu tư 30.880,72 tỷ đồng, trong đó 43 dự án đầu tư ngoài KKT, KCN vốn đầu tư 26.367,66 tỷ đồng; 10 dự án trong KKT, KCN, vốn đầu tư 4.513,06 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh thu hút 224 dự án đầu tư, đạt 131,76% KH, tăng 55,56% so với cùng kỳ với tổng vốn đăng ký đầu tư là 196.588,74 tỷ đồng, tăng gấp 2,52 lần so với cùng kỳ, trong đó có 217 dự án đầu tư trong nước có tổng vốn đăng ký 192.513,86 tỷ đồng và 07 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 4.074,88 tỷ đồng (tương đương 156,73 triệu USD).
Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực. Trong quý III đã có 1.081 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 17.769 tỷ đồng; tạm ngừng kinh doanh 217 doanh nghiệp; giải thể 723 doanh nghiệp; hoạt động trở lại 133 doanh nghiệp. Luỹ kế 9 tháng có 2.879 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 41,13% KH, tăng 19,36% CK, với tổng vốn đăng ký đạt 41.685 tỷ đồng, đạt 83,37% KH, tăng gấp 2,23 lần CK. Tạm ngừng kinh doanh 1.131 doanh nghiệp; giải thể 975 doanh nghiệp; hoạt động trở lại 512 doanh nghiệp.
2. Về văn hoá – xã hội
- Về giáo dục: Tổ chức tốt tuyển sinh đầu cấp, khai giảng năm học 2026-2027 và khánh thành 7 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới. Chất lượng giáo dục tiếp tục được nâng lên, học sinh của tỉnh đạt nhiều thành tích tại các kỳ thi, cuộc thi quốc gia. Chuyển đổi số và đổi mới giáo dục được đẩy mạnh. Ngành triển khai Học bạ số trên phạm vi toàn tỉnh; chuẩn hóa, đồng bộ dữ liệu sau sắp xếp đối với 701 cơ sở giáo dục; tăng cường chữ ký số, hồ sơ điện tử, cơ sở dữ liệu ngành. Giáo dục STEM/STEAM, Robotics và AI tiếp tục được mở rộng; triển khai Khung nội dung giáo dục AI cho học sinh phổ thông từ năm học 2026-2027 và xây dựng quy định sử dụng AI trong dạy học, học tập, kiểm tra, đánh giá.
Giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và xây dựng xã hội học tập tiếp tục được quan tâm. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 72,57%, trong đó trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia đạt 79,15%. Có 1.418 học sinh dân tộc thiểu số sau tốt nghiệp THCS tham gia học nghề, vượt kế hoạch năm; đào tạo nghề cho 2.967/6.020 lao động nông thôn, đạt 49,29% kế hoạch. Công tác số hóa văn bằng, chứng chỉ, xây dựng xã hội học tập, khuyến học - khuyến tài và liên kết đào tạo nghề với nhu cầu doanh nghiệp được triển khai.
- Về văn hóa - thể thao: Trong 9 tháng năm 2026, lĩnh vực văn hóa, thể thao của tỉnh đạt nhiều kết quả tích cực. Công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tiếp tục được chú trọng. Tỉnh đã công bố danh mục kiểm kê di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; rà soát, lập hồ sơ đề nghị xếp hạng một số di tích cấp tỉnh, cấp quốc gia; triển khai công tác lập quy hoạch khảo cổ và tăng cường quản lý, bảo vệ di tích. Đặc biệt, đã tham mưu triển khai Đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản Không gian văn hóa cồng chiêng tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030, duy trì Chương trình “Cồng chiêng cuối tuần - Thưởng thức & Trải nghiệm”, chuẩn bị Festival quốc tế Cồng chiêng Tây Nguyên năm 2026 và Ngày hội Văn hóa các dân tộc tỉnh Gia Lai lần thứ I. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả ở một số địa phương. Các hoạt động thể thao quần chúng, các giải thi đấu thể thao trong tỉnh được triển khai theo kế hoạch. Nhiều giải thể thao quy mô quốc gia, quốc tế được tổ chức thành công, nổi bật là Liên hoan quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam lần thứ IX và Đại hội Thể thao tỉnh Gia Lai lần thứ I. Thể thao thành tích cao đạt 524 huy chương tại 57 giải quốc gia và 22 huy chương tại 8 giải khu vực, quốc tế.
- Về y tế: Trong 9 tháng năm 2026 tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân; tham mưu ban hành nhiều cơ chế, chính sách quan trọng về phát triển hệ thống y tế, thu hút và đào tạo nhân lực, chế độ đối với cộng tác viên dân số, luân phiên bác sĩ về tuyến xã; triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW về các giải pháp đột phá trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Đáng chú ý, tỉnh ban hành chính sách thu hút, ưu đãi bác sĩ, dược sĩ và Đề án đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế công lập giai đoạn 2026-2030. Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố, 100% Trạm y tế có bác sĩ, số giường bệnh đạt 35,1 giường/vạn dân. Công tác khám sức khỏe định kỳ, phòng chống dịch, khám chữa bệnh, an toàn thực phẩm, dân số và an sinh xã hội được triển khai tích cực; chuyển đổi số có bước tiến rõ nét với 100% cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở triển khai bệnh án điện tử giai đoạn cơ bản và trên 843 nghìn Sổ sức khỏe điện tử được tạo lập trên VNeID. Hạ tầng y tế tiếp tục được đầu tư, Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh được thành lập và nhiều dự án nâng cấp cơ sở y tế được triển khai.
Công tác an toàn thực phẩm, dinh dưỡng, dân số và an sinh xã hội được triển khai thường xuyên. Ngành đã kiểm tra 157 cơ sở thực phẩm, phát hiện 55 cơ sở vi phạm và xử phạt trên 314 triệu đồng; tăng cường giám sát an toàn thực phẩm tại các sự kiện lớn. Công tác dinh dưỡng, sàng lọc trước sinh và sơ sinh tiếp tục được triển khai, tuy nhiên năng lực sàng lọc giữa các cơ sở còn chưa đồng đều. Toàn tỉnh có 213.406 đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp; các chương trình chăm sóc, bảo vệ trẻ em tiếp tục được thực hiện.
- Về lao động, việc làm, an sinh xã hội: Công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách tiếp tục được thực hiện. Tiếp tục giải quyết chế độ trợ cấp cho các trường hợp người có công với cách mạng và thân nhân theo quy định và kịp thời; tổ chức các hoạt động tri ân, chăm sóc người có công, hỗ trợ từ Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, trong đó tặng quà cho 440 lượt người có công tại các xã đặc biệt khó khăn và bệnh viện. Các Hội nghị, diễn đàn về hướng nghiệp; tư vấn xuất khẩu lao động; nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý về an toàn, vệ sinh lao động… tiếp tục được duy trì và triển khai có hiệu quả. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã tuyển sinh, đào tạo 29.273 người, trong đó chú trọng lao động nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo và các ngành nghề phục vụ các lĩnh vực kinh tế trọng điểm.
Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em tiếp tục được quan tâm, triển khai thực hiện. Trong đó, tập trung đẩy mạnh thực hiện các nội dung thuộc Chương trình phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em; Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em; Chương trình Bảo vệ trẻ em...; tổ chức thăm và tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nhân các dịp lễ, tết.
- Về khoa học - công nghệ: Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW đạt nhiều kết quả. Đối với 276 nhiệm vụ Trung ương, Chính phủ giao, đã hoàn thành 172 nhiệm vụ, đạt 62,32%, không có nhiệm vụ quá hạn chưa hoàn thành. Theo Kế hoạch số 42-KH/TU của Tỉnh ủy, đã hoàn thành 48/94 nhiệm vụ; tiếp tục duy trì Trung tâm giám sát, điều hành thông minh IOC với 7 nhóm dịch vụ và ứng dụng iGiaLai đạt hơn 65 nghìn lượt cài đặt. Hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo có chuyển biến tích cực. Tổ chức thành công Chuỗi sự kiện và Hackathon Lượng tử Quốc tế 2026, thu hút hơn 400 đăng ký, 26 đội vào vòng chung kết, ký 5 biên bản ghi nhớ hợp tác và ra mắt Trung tâm Giải mã lượng tử Quang Trung. Chương trình ươm tạo khởi nghiệp sáng tạo lựa chọn 10 dự án để hỗ trợ; tổ chức nhiều hoạt động đào tạo, cố vấn doanh nghiệp, hội nghị và triển lãm khoa học quốc tế. Đồng thời, tỉnh tăng cường hợp tác với FPT, Viettel, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, các trường đại học để triển khai các lĩnh vực AI, bán dẫn, an ninh mạng, STEM.
Công tác sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng được tăng cường. Tỉnh tiếp tục quản lý 4 chỉ dẫn địa lý, 51 nhãn hiệu chứng nhận và 26 nhãn hiệu tập thể; hoàn thiện bảo hộ một số sản phẩm như Sầu riêng Gia Lai, Gạo màu hữu cơ Gia Lai, cấp quyền sử dụng nhãn hiệu “Chanh dây Gia Lai”, “Phở khô Gia Lai”. Công tác thanh tra, kiểm tra sở hữu trí tuệ, đo lường, chất lượng hàng hóa được thực hiện thường xuyên; kiểm định hơn 11.700 phương tiện đo, đồng thời triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đổi mới đo lường.
Chuyển đổi số và hạ tầng số có bước phát triển rõ nét. Tỉnh hiện có 02 khu công nghệ số tập trung, thu hút khoảng 1.200 nhân lực chất lượng cao; triển khai các dự án lớn về công nghệ số, AI và đô thị thông minh. Hệ thống Trợ lý ảo AI cấp tỉnh đã được đưa vào vận hành, phục vụ 100% sở, ngành và 135 xã, phường. Phong trào “Bình dân AI học vụ” đã tổ chức 23 lớp với hơn 10.500 lượt người tham gia; hơn 7.400 cán bộ, công chức, viên chức được tập huấn kỹ năng số. Tỉnh đồng thời triển khai GIS, UAV và dữ liệu không gian phục vụ quản lý nhà nước.
- Về dân tộc – tôn giáo: Trong 9 tháng năm 2026, tình hình vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Công tác rà soát, phân định địa bàn và đối tượng thụ hưởng chính sách sau sắp xếp được hoàn thành; các chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, hạ tầng, an sinh xã hội, người có uy tín và bảo tồn văn hóa tiếp tục được triển khai. Nguồn vốn chuyển tiếp Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã giải ngân 161,24/398,1 tỷ đồng, đạt 40,5%. Công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo được tăng cường, các hoạt động tôn giáo cơ bản diễn ra ổn định, đúng quy định; cải cách hành chính, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành được đẩy mạnh.
a) Về sản xuất nông, lâm, thủy sản, quản lý tài nguyên và môi trường
Trong 9 tháng năm 2026, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục duy trì ổn định, đóng vai trò quan trọng trong tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Các địa phương tập trung hoàn thành sản xuất vụ Đông Xuân, vụ Hè Thu và triển khai vụ Mùa; phát triển chăn nuôi gắn với kiểm soát dịch bệnh; tăng cường quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Công tác quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, bảo vệ môi trường, thủy lợi và phòng, chống thiên tai được tăng cường; từng bước tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về đất đai, nguồn vật liệu xây dựng phục vụ các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh.
- Về trồng trọt: Tổng diện tích cây hàng năm chính ước đạt 452.184 ha, đạt 99,7% kế hoạch (viết tắt KH), tăng 12,5% so với cùng kỳ (viết tắt CK); tổng sản lượng đạt 3.824.205 tấn, đạt 48,6% KH và tăng 123% CK. Tổng diện tích cây công nghiệp dài ngày ước đạt 252.307 ha, đạt 100,5% KH, giảm 0,4% CK; tổng sản lượng đạt 229.865 tấn, đạt 34% KH và tăng 3,3% CK. Tổng diện tích cây ăn quả ước đạt 32.789 ha, đạt 98,4% KH, tăng 4% CK; tổng sản lượng đạt 499.926 tấn, đạt 73,4% KH và tăng 33,7% CK. Toàn tỉnh đã thực hiện chuyển đổi khoảng 5.042,6 ha diện tích cây trồng kém hiệu quả chuyển sang cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu, phù hợp với nhu cầu thị trường, đạt 61,9% KH. Đến nay, toàn tỉnh hiện có 497 mã số vùng trồng, với tổng diện tích 13.174,23 ha, trong đó 113 mã số vùng trồng phục vụ thị trường trong nước, với diện tích 630,89 ha và 384 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu, với diện tích 12.712,01 ha. Ngoài ra, có 61 mã số cơ sở đóng gói xuất khẩu sang Trung Quốc, công suất từ 3.570 - 3.840 tấn quả tươi/ngày. Toàn tỉnh hiện có khoảng 226 chuỗi liên kết liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm/diện tích 253.100 ha.
- Về chăn nuôi: Công tác quản lý kiểm soát chăn nuôi, phát triển tái đàn gắn với phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tăng cường. Giá lợn thường xuyên ở mức cao, tạo điều kiện cho người chăn nuôi tích cực tái đàn phát triển sản xuất chăn nuôi. Đàn vật nuôi tiếp tục tăng trưởng đảm bảo kế hoạch và tăng so với cùng kỳ, cụ thể: Đàn bò đạt 801.543 con, đạt 96,6% KH, tăng 1,2% CK. Đàn lợn đạt 1.842.351 con, đạt 89,2% KH, tăng 13,2% CK. Đàn gia cầm đạt 18.839.500 con, đạt 95,4% KH, tăng 1,2% CK. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 3 loại vật nuôi chủ lực Quý III ước đạt 124.085 tấn, tăng 12,2% CK; lũy kế 9 tháng ước đạt 380.640 tấn, đạt 65,4% KH, tăng 7,2% CK.
Đến nay, tỉnh đã thu hút được 311 dự án đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi (Đông Gia Lai 37 dự án, Tây Gia Lai 274 dự án), với tổng diện tích 13.780 ha, tổng vốn đầu tư xây dựng 68.100 tỷ đồng. Toàn tỉnh hiện có 1.222 trang trại, dự án chăn nuôi hoạt động gồm: 84 dự án chăn nuôi và 1.138 cơ sở chăn nuôi theo quy mô trang trại; chăn nuôi theo hình thức công nghiệp, trang trại chiếm 33%; có 07 chuỗi liên kết giữa các doanh nghiệp với người chăn nuôi, với tổng 212 trại liên kết và 13 hợp tác xã liên kết với các hộ sản xuất theo chuỗi; có 25 cơ sở chăn nuôi được chứng nhận theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.
- Về lâm nghiệp: Công tác kiểm tra, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, nhất là những vùng trọng điểm, có nguy cơ cháy rừng cao; thường xuyên theo dõi cấp dự báo cháy rừng; tổ chức tuần tra, kiểm soát, truy quét, ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản được tăng cường có hiệu quả; từ đầu năm đến nay xảy ra 06 vụ cháy rừng; diện tích thiệt hại 226,2 ha (tăng 04 vụ CK); phát hiện, bắt giữ 230 vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp (tăng 10 vụ CK). Đã xử lý 128 vụ vi phạm (115 vụ vi phạm hành chính và 13 vụ vi phạm hình sự), đang xác minh, xử lý 102 vụ.
Công tác sử dụng và phát triển rừng tiếp tục được quan tâm. Trong 9 tháng đã trồng được 15.375 ha rừng tập trung, đạt 36% KH, tăng gấp đôi cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác đạt trên 2,2 triệu m3, đạt 85% KH, tăng 20% CK (do tập trung khai thác và phục hồi diện tích rừng bị thiệt hại do thiên tai cuối năm 2025).
- Về thủy sản: Từ đầu năm đến nay, thời tiết biển tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác thủy sản; hoạt động sản xuất nuôi trồng thuỷ sản được quan tâm chú trọng đầu tư. Tổng sản lượng thuỷ sản Quý III ước đạt 92.036 tấn; luỹ kế 9 tháng ước đạt 248.060 tấn, đạt 79% KH, tăng 2,6% CK.
Tỉnh đã chỉ đạo tập trung mọi nguồn lực để chuẩn bị nội dung, hồ sơ và hiện trường làm việc với Đoàn Thanh tra của Ủy ban Châu Âu (EC) lần thứ 5; tổ chức Đoàn công tác liên ngành kiểm tra, xử lý các tồn tại, hạn chế trong thực hiện nhiệm vụ chống khai thác IUU của các tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn tỉnh; thực hiện quy trình kiểm soát tàu cá cập, rời cảng, giám sát sản lượng và truy xuất nguồn gốc thủy sản; rà soát, cập nhật dữ liệu trên các hệ thống VNFishbase, eCDT và VMS.
Tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả các Chính sách hỗ trợ khai thác thuỷ sản trên địa bàn tỉnh. Trong đó, đã phê duyệt 3.556 hồ sơ hỗ trợ khai thác hải sản trên các vùng biển xa theo Quyết định 48/2010/QĐ-TTg với tổng kinh phí 316.865 triệu đồng, góp phần hỗ trợ ngư dân duy trì sản xuất; tổ chức thẩm định hồ sơ đề nghị hỗ trợ giải bản 367 tàu cá, tổng kinh phí hơn 51.276 triệu đồng; phê duyệt hỗ trợ 275 tàu cá, với số tiền hơn 50.973 triệu đồng. Ban hành Quyết định hỗ trợ ổn định đời sống đối với các hộ ngư dân có tàu cá bị thiệt hại do hỏa hoạn tại Khu neo đậu tránh trú bão Tam Quan (08 tàu) và tại Đầm Thị Nại (16 tàu).
- Triển khai đồng bộ, hiệu quả công tác phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới: xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ cà phê, chanh leo, mía bền vững; tham mưu Phương án bố trí, ổn định dân cư vùng thiên tai giai đoạn 2026–2030 và đẩy nhanh 16 dự án bố trí dân cư vùng thiên tai; tham mưu xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách phục vụ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia; ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, liên kết tiêu thụ sản phẩm và phát triển ngành nghề nông thôn, giải ngân vốn và nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP.
- Về quản lý đất đai: Ban hành 13 văn bản QPPL trong lĩnh vực đất đai góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai sau sáp nhập tỉnh; triển khai các quy định mới của Trung ương về đất đai; các quyết định phân cấp, ủy quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai cho cấp xã và Ban Quản lý Khu kinh tế; kiểm tra việc sử dụng đất đối với các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh; tập trung giải quyết các thủ tục giao, thuê, chuyển mục đích và nhận chuyển quyền sử dụng đất; xử lý các vướng mắc về GPMB, giá đất; triển khai đấu giá đất. Đẩy mạnh làm sạch CSDL đất đai, triển khai thực nghiệm đo đạc bằng UAV.
- Về quản lý khoáng sản, tài nguyên nước: Công tác quản lý khoáng sản, tài nguyên nước tiếp tục được tăng cường; tập trung rà soát, tháo gỡ khó khăn về nguồn vật liệu xây dựng, nhất là phục vụ các công trình, dự án trọng điểm. Tỉnh đã tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản đối với 52 khu vực mỏ; triển khai thí điểm cấp phép khoáng sản tại 65 xã, phường, gắn với tăng cường phân cấp, ủy quyền, kiểm tra và giám sát hoạt động khai thác. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong giám sát, quản lý khoáng sản, tài nguyên nước; thực hiện các nhiệm vụ kiểm kê tài nguyên nước và xây dựng hệ thống cảnh báo lũ trên các lưu vực sông.
- Về bảo vệ môi trường: Ban hành quy định đặc điểm kinh tế - kỹ thuật đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt và dịch vụ vệ sinh công cộng; mức giá cụ thể dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt. Kiểm tra, xử lý các điểm và cơ sở có nguy cơ ô nhiễm; tăng cường công tác kiểm soát, giám sát chặt chẽ các nguồn thải và đảm bảo vệ sinh môi trường; theo dõi, giám sát số liệu quan trắc nước thải và khí thải tự động, liên tục từ các cơ sở sản xuất trên phần mềm tiếp nhận số liệu quan trắc tự động; tiếp nhận và xử lý thông tin về ô nhiễm môi trường.
- Về thuỷ lợi, phòng chống thiên tai: Ban hành các văn bản về cơ chế, chính sách và quản lý nhà nước trong lĩnh vực thủy lợi, đê điều, phòng chống thiên tai như: các nghị quyết về hỗ trợ kiên cố hóa kênh mương, duy tu đê điều; các quy định về phân cấp quản lý, khai thác công trình thủy lợi; lực lượng quản lý đê nhân dân; kế hoạch phát triển thủy lợi và nước sạch nông thôn giai đoạn 2026–2030 và phương án ứng phó thiên tai năm 2026. Theo dõi nguồn nước, an toàn hồ đập; triển khai các giải pháp phòng, chống hạn hán, thiếu nước vào mùa khô; triển khai cảnh báo lũ thông minh, tiêu thoát lũ sông Hà Thanh.
b) Về sản xuất công nghiệp và xây dựng
- Về sản xuất công nghiệp: Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì tăng trưởng, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo giữ vai trò động lực chủ yếu; nhiều doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất, mở rộng thị trường, khai thác công suất và đưa các dự án mới vào hoạt động. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ, Quý III dự ước tăng khoảng 8,98% so với cùng kỳ, tính chung trong 9 tháng năm 2026, IIP dự ước tăng 9,03% so với cùng kỳ; trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 5,08%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,70%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 3,88%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 6,35%.
Các cụm công nghiệp (CNN) trên địa bàn tỉnh tiếp tục kêu gọi thu hút đầu tư, xây dựng nhà xưởng và hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh tạo việc làm, tăng thu nhập và an sinh xã hội. Trong 9 tháng đầu năm, UBND tỉnh quyết định thành lập 13 CCN với diện tích 951 ha, mở rộng 03 CCN với diện tích 147,3 ha. Đến nay, có 75/175 CCN với tổng diện tích 3.486,5 ha được quyết định thành lập vượt mục tiêu đề ra (mục tiêu 72 CCN).
Từ đầu năm đến nay đã thu hút 26 dự án (đạt 96% KH) đầu tư vào cụm công nghiệp với tổng vốn đầu tư 3.611 tỷ đồng, tổng diện tích 77,8 ha. Tính đến nay, đã thu hút 493 dự án đăng ký đầu tư vào CCN với tổng vốn đầu tư 25.663 tỷ đồng, tổng diện tích 960 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy bình quân các CCN đã đi vào hoạt động 82%.
Trong Quý III có 21 dự án sản xuất công nghiệp với tổng vốn đầu tư 7.850 tỷ đồng đi vào hoạt động. Lũy kế đến nay có 79 dự án (đạt 70,54% KH) với tổng vốn đầu tư 16.683 tỷ đồng đi vào hoạt động; trong đó, có 16 dự án trọng điểm với tổng vốn đầu tư 15.311 tỷ đồng.
Các chương trình khuyến công, tư vấn phát triển công nghiệp tiếp tục được quan tâm triển khai thực hiện. Hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề tiếp tục phát triển ổn định. Các sản phẩm của các làng nghề đã đáp ứng phần lớn nhu cầu tiêu dùng của người dân trong tỉnh.
- Về xây dựng - quy hoạch: Hoạt động quản lý đầu tư xây dựng, vật liệu xây dựng, quy hoạch – kiến trúc và phát triển đô thị tiếp tục được tăng cường. Công tác thẩm định dự án, thiết kế xây dựng, kiểm tra nghiệm thu công trình được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định, góp phần nâng cao chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Tiếp tục triển khai Chương trình phát triển đô thị tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030; tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW, Kết luận số 224-KL/TW và Chương trình hành động của tỉnh về phát triển đô thị bền vững. Ban hành Kế hoạch phát triển nhà ở tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 – 2030. Hoàn thành phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Gia Lai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
c) Về thương mại, dịch vụ, tài chính
- Về thương mại: Trong quý III, thị trường trên địa bàn tỉnh sôi động do đây là thời điểm bước vào mùa du lịch hè và các dịp Lễ lớn, hoạt động thương mại, dịch vụ ghi nhận những tín hiệu tích cực. Cung cầu hàng hoá đảm bảo, hàng hoá phong phú, đa dạng, không có hiện tượng sốt giá, khan hiếm hàng xảy ra trên địa bàn tỉnh. Các hoạt động xúc tiến thương mại, khuyến mại, giảm giá được tổ chức thường xuyên. Công tác bình ổn thị trường được quan tâm và tích cực triển khai đã đem lại kết quả tốt, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân và tạo được sự ổn định cho thị trường hàng hoá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng trên địa bàn tỉnh quý III ước đạt khoảng 63.168 tỷ đồng, tính chung 9 tháng năm 2026 ước đạt 171.774,3 tỷ đồng, đạt 78,08% KH, tăng 15,28% CK.
Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tội phạm buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn tỉnh tiếp tục được đẩy mạnh.
- Về xuất, nhập khẩu: Hoạt động ngoại thương mặc dù chịu tác động đồng thời từ sự điều chỉnh chính sách thương mại của Hoa Kỳ và những diễn biến căng thẳng tại khu vực Trung Đông nhưng nhờ việc đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối giao thương, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ, triển lãm quốc tế nhằm mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu sang các khu vực tiềm năng như ASEAN, Nam Á, Nam Mỹ và châu Phi, giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống. Hoạt động xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định và có nhiều tín hiệu tích cực. Trong quý III là thời điểm chuẩn bị bước vào mùa thu hoạch và tiêu thụ các mặt hàng nông sản chủ lực của tỉnh như cà phê, hồ tiêu, sầu riêng và các nông sản chế biến, cùng với gỗ, sản phẩm gỗ, dệt may và thủy sản. Kim ngạch xuất khẩu trên toàn tỉnh quý III ước đạt 810 triệu USD, tính chung trong 9 tháng ước đạt 2.940 triệu USD, đạt 84% KH, tăng 6,8% CK. Kim ngạch nhập khẩu trên toàn tỉnh quý III ước đạt 241,8 triệu USD, tính chung trong 9 tháng ước đạt 798,37 triệu USD, đạt 72,58% KH, tăng 10,6% CK.
- Về vận tải: 9 tháng đầu năm, dịch vụ vận chuyển hành khách ước đạt 76,398 triệu hành khách, tăng 24,2% so với cùng kỳ và luân chuyển 10.284 triệu hành khách.km, tăng 27,5% so với cùng kỳ. Vận chuyển hàng hoá ước đạt 47,815 triệu tấn, tăng 15,2% so với cùng kỳ; luân chuyển 7.190 triệu tấn.km, tăng 18,7% so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải 9 tháng ước đạt 17.461 tỷ đồng, tăng 21,1% so với cùng kỳ.
- Về du lịch: Tỉnh đã tổ chức nhiều sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch quy mô quốc gia và quốc tế, nổi bật như Lễ khai mạc Năm Du lịch quốc gia - Gia Lai 2026, Lễ hội Du lịch hè “Gia Lai - Điểm đến kỳ thú”, Liên hoan Quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam lần thứ IX, Ngày Lữ hành Việt Nam và Diễn đàn Lữ hành quốc tế năm 2026, VnExpress Marathon Quy Nhơn 2026 cùng nhiều lễ hội, ngày hội du lịch tại các địa phương. Qua đó, hình ảnh và thương hiệu du lịch Gia Lai tiếp tục được quảng bá rộng rãi, từng bước hình thành không gian du lịch liên kết giữa biển Quy Nhơn và đại ngàn Tây Nguyên, góp phần thúc đẩy các ngành lưu trú, ăn uống, vận tải, thương mại và dịch vụ phát triển. Trong Quý III, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Ước tính toàn tỉnh đón khoảng 4,755 triệu lượt khách du lịch, tăng 25,3% CK. Lũy kế 9 tháng đầu năm, toàn tỉnh ước đón 13,51 triệu lượt khách du lịch, đạt 90% KH, tăng khoảng 25,0% CK. Trong Quý III, tổng thu từ khách du lịch ước đạt 10.200 tỷ đồng, tăng 26% CK. Lũy kế 9 tháng đầu năm, tổng thu từ khách du lịch ước đạt 29.210 tỷ đồng, đạt 83,5% KH, tăng khoảng 24,6% CK.
Bên cạnh tổ chức tốt các sự kiện, sản phẩm du lịch mới, ngành du lịch đã tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành quy định trong hoạt động kinh doanh du lịch tại các khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú; kiểm tra hoạt động vận tải khách du lịch và hoạt động của hướng dẫn viên du lịch; tạo hình ảnh về một không gian đẹp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút du khách trong và ngoài nước.
- Về thu chi ngân sách: Ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo thực hiện các biện pháp chủ yếu điều hành dự toán ngân sách địa phương năm 2026 trên địa bàn tỉnh, tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, tạo nguồn thu ổn định, vững chắc cho ngân sách. UBND tỉnh đã xây dựng kịch bản thu ngân sách nhà nước năm 2026 cụ thể theo từng quý đồng thời phấn đấu thu ngân sách nhà nước tăng từ 27.871 tỷ đồng lên 32.297 tỷ đồng.
Tổng thu ngân sách nhà nước 9 tháng đầu năm 2026 ước thực hiện 21.600 tỷ đồng, đạt 77,5% dự toán năm, tăng 3,8% CK. Trong đó: Thu lõi (thu nội địa trừ tiền sử dụng đất; thu cổ tức và lợi nhuận sau thuế, XSKT) thực hiện là 14.274 tỷ đồng, đạt 93,5% dự toán năm, tăng 36,1% so với cùng kỳ; thu tiền sử dụng đất thực hiện 6.095 tỷ đồng, đạt 53,5% dự toán năm, giảm 35,7% so với cùng kỳ (nguyên nhân đạt thấp chủ yếu là do xác định giá đất, hoàn thiện thủ tục pháp lý, giải phóng mặt bằng và đấu giá quyền sử dụng đất còn chậm; một số dự án đấu giá không thành công, nhà đầu tư khó khăn về vốn và thực hiện nghĩa vụ tài chính); thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu là 664 tỷ đồng, đạt 131,2% dự toán năm, tăng 75,5% so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách địa phương thực hiện 9 tháng đầu năm là 39.580 tỷ đồng, đạt 65,4% dự toán năm.
- Về hoạt động tài chính, tín dụng: tiếp tục thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về lãi suất huy động và cho vay; triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời và có hiệu quả các giải pháp, cơ chế, chính sách của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Đến ngày 30/9/2026, tổng nguồn vốn huy động tại địa phương là 234.700 tỷ đồng, tăng 10,2% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ là 291.000 tỷ đồng, tăng 11,7% so với cuối năm 2025; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ 1,55%.
d) Về thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển
- Đầu tư toàn xã hội: Tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh quý III đạt 26.585 tỷ đồng, tăng 17,3% so với cùng kỳ. Luỹ kế 9 tháng đạt 59.178,2 tỷ đồng, tăng 6,3% so với cùng kỳ (Trong đó, vốn Nhà nước đạt 19.588,8 tỷ đồng, tăng 0,1%; vốn ngoài Nhà nước đạt 38.447,3 tỷ đồng, tăng 9,6%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 1.142,1 tỷ đồng, tăng 13,7%).
- Đầu tư công: Tổng kế hoạch vốn năm 2026 tỉnh Gia Lai (kể cả vốn kéo dài) là 30.334 tỷ đồng (đã bao gồm nguồn tăng thu ngân sách trung ương năm 2025 là 9.100 tỷ đồng và nguồn hỗ trợ năm 2026 thực hiện khắc phục hậu quả, phòng, chống thiên tai là 1.834 tỷ đồng) Trong đó: Kế hoạch vốn năm 2026 là 28.791 tỷ đồng; Kế hoạch vốn kéo dài là 1.553 tỷ đồng. Ngay từ đầu năm, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành các quyết định phân bổ và giao bộ kế hoạch đầu tư công cho từng chủ đầu tư để các đơn vị, địa phương chủ động triển khai hiệu quả các dự án đầu tư xây dựng cơ bản. Tiếp tục đẩy mạnh huy động các nguồn vốn nhằm đáp ứng nhu cầu chi đầu tư phát triển, tập trung xây dựng hoàn thành các công trình trọng điểm của tỉnh.
Tính đến ngày 30/9/2026, giá trị giải ngân vốn đầu tư công do tỉnh quản lý đạt 19.333 tỷ đồng (Trong đó: Kế hoạch vốn năm 2026 là 18.192 tỷ đồng; Kế hoạch vốn kéo dài là 1.141 tỷ đồng), đạt 70,47% so với Kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, đạt 63,71% so với Kế hoạch Hội đồng nhân dân giao kể cả vốn kéo dài. Trong đó: (i) Vốn ngân sách tỉnh đạt 45,79%, (ii) Vốn ngân sách trung ương (bao gồm vốn ODA) đạt 77,24%, (iii) Vốn ngân sách phân cấp xã, phường thực hiện giải ngân 1.714 tỷ đồng, đạt 71,6%.
Tuy nhiên, kết quả giải ngân nêu trên vẫn chưa phản ánh sát thực tế triển khai của tỉnh, vì thực tế, tiến độ giải ngân nguồn thu tiền sử dụng đất phụ thuộc trực tiếp vào tiến độ thu tiền sử dụng đất phát sinh trong năm. Hiện nay, khối lượng dự kiến có thể giải ngân thêm trong trường hợp đảm bảo nguồn thu tiền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh đến nay là 1.349 tỷ đồng. Trường hợp tính khối lượng giải ngân dự kiến có thể tăng thêm nêu trên, tổng giá trị giải ngân của tỉnh đạt 75,7% so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao và đạt 68,2% so với Kế hoạch HĐND tỉnh giao.
Theo số liệu ghi nhận của Bộ Tài chính tính đến hết ngày 30/9/2026, tỉnh Gia Lai đạt 58,8%, xếp thứ 21/34 (tuy nhiên, trong đó không bao gồm Nguồn tăng thu ngân sách trung ương năm 2025 bổ sung cho Cao tốc Quy Nhơn - Pleiku là 9.100 tỷ đồng và Nguồn hỗ trợ năm 2026 thực hiện khắc phục hậu quả, phòng chống thiên tai là 1.834 tỷ đồng theo ý kiến của Bộ Tài chính tại Văn bản số 15207/BTC-PTHT ngày 25/9/2026; về vấn đề này, tỉnh sẽ tiếp tục làm việc với Bộ Tài chính để xem xét ghi nhận vì 2 nguồn vốn nêu trên đều được NSTW bổ sung giao tỉnh thực hiện quy trình đầu tư công thuộc kế hoạch vốn năm 2026 và đến nay đã có kết quả giải ngân tích cực và tác động lớn đến kết quả giải ngân chung của tỉnh).
Trong năm 2026, kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ và HĐND tỉnh giao thực hiện được điều chỉnh, bổ sung nhiều đợt so với thời điểm đầu năm:
- So với Kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao: Kế hoạch vốn tổng cộng tăng 12.634 tỷ đồng (tương đương tăng 95,84%). Trường hợp so sánh với kế hoạch giao đầu năm, tỷ lệ giải ngân của tỉnh đạt 138,00% (18.192/13.183 tỷ đồng).
- So với Kế hoạch HĐND tỉnh giao: Kế hoạch vốn tổng cộng tăng 17.064 tỷ đồng (tương đương tăng 128,49%). Trường hợp so sánh với kế hoạch giao đầu năm, tỷ lệ giải ngân của tỉnh đạt 145,58% (19.333/13.280 tỷ đồng).
Trong năm 2026, tỉnh Gia Lai tiếp tục triển khai thi công nhiều dự án trọng điểm có quy mô lớn, góp phần tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho tỉnh trong thời gian tới, cụ thể: 02 dự án thuộc nhóm dự án quan trọng Quốc gia là Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Quy Nhơn – Pleiku và Dự án Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam (đoạn qua địa bàn tỉnh Gia Lai); các dự án trọng điểm khác của tỉnh như: Dự án đầu tư xây dựng đường cất hạ cánh số 2 và các công trình đồng bộ tại khu bay Cảng hàng không Phù Cát; các tuyến đường kết nối từ cao tốc Bắc – Nam đến Khu công nghiệp Phù Mỹ và Bến cảng Phù Mỹ; tuyến đường nối từ Quốc lộ 1 đến đường ven biển ĐT.639 kết nối Cảng Đề Gi; tiếp tục đầu tư đường hành lang kinh tế phía Đông (đường tránh Quốc lộ 19), đường tỉnh 669, đường liên huyện Mang Yang – Ia Pa và tuyến đường ven biển (ĐT.639), đoạn Mỹ Thành - Lại Giang... Đồng thời, tỉnh ưu tiên đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, khu đô thị, khu tái định cư, các dự án năng lượng và hạ tầng truyền tải điện, cùng các công trình y tế, giáo dục, thủy lợi và cấp nước sinh hoạt, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế – xã hội và tăng cường liên kết vùng trong giai đoạn 2026- 2030.
đ) Về thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp
Công tác xúc tiến, thu hút đầu tư tiếp tục được đẩy mạnh. Nổi bật, tỉnh đã tổ chức thành công Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh Gia Lai năm 2026 với sự tham dự của khoảng 800 doanh nghiệp trong và ngoài nước; trao quyết định, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác đầu tư cho 273 dự án với tổng vốn đăng ký và dự kiến đầu tư gần 850.000 tỷ đồng. Đồng thời, tỉnh đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư quốc tế thông qua Hội nghị xúc tiến đầu tư song phương Gia Lai - Stung Treng (Campuchia), Hội thảo xúc tiến đầu tư với Hiệp hội Thương mại Đài Loan tại Việt Nam và chương trình xúc tiến đầu tư, thương mại, du lịch tại Bồ Đào Nha, Đức. Qua đó, tiếp tục quảng bá tiềm năng, lợi thế, mở rộng mạng lưới đối tác và thu hút các dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên của tỉnh.
Trong quý III toàn tỉnh thu hút mới 53 dự án, tổng vốn đầu tư 30.880,72 tỷ đồng, trong đó 43 dự án đầu tư ngoài KKT, KCN vốn đầu tư 26.367,66 tỷ đồng; 10 dự án trong KKT, KCN, vốn đầu tư 4.513,06 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh thu hút 224 dự án đầu tư, đạt 131,76% KH, tăng 55,56% so với cùng kỳ với tổng vốn đăng ký đầu tư là 196.588,74 tỷ đồng, tăng gấp 2,52 lần so với cùng kỳ, trong đó có 217 dự án đầu tư trong nước có tổng vốn đăng ký 192.513,86 tỷ đồng và 07 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 4.074,88 tỷ đồng (tương đương 156,73 triệu USD).
Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực. Trong quý III đã có 1.081 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 17.769 tỷ đồng; tạm ngừng kinh doanh 217 doanh nghiệp; giải thể 723 doanh nghiệp; hoạt động trở lại 133 doanh nghiệp. Luỹ kế 9 tháng có 2.879 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 41,13% KH, tăng 19,36% CK, với tổng vốn đăng ký đạt 41.685 tỷ đồng, đạt 83,37% KH, tăng gấp 2,23 lần CK. Tạm ngừng kinh doanh 1.131 doanh nghiệp; giải thể 975 doanh nghiệp; hoạt động trở lại 512 doanh nghiệp.
2. Về văn hoá – xã hội
- Về giáo dục: Tổ chức tốt tuyển sinh đầu cấp, khai giảng năm học 2026-2027 và khánh thành 7 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới. Chất lượng giáo dục tiếp tục được nâng lên, học sinh của tỉnh đạt nhiều thành tích tại các kỳ thi, cuộc thi quốc gia. Chuyển đổi số và đổi mới giáo dục được đẩy mạnh. Ngành triển khai Học bạ số trên phạm vi toàn tỉnh; chuẩn hóa, đồng bộ dữ liệu sau sắp xếp đối với 701 cơ sở giáo dục; tăng cường chữ ký số, hồ sơ điện tử, cơ sở dữ liệu ngành. Giáo dục STEM/STEAM, Robotics và AI tiếp tục được mở rộng; triển khai Khung nội dung giáo dục AI cho học sinh phổ thông từ năm học 2026-2027 và xây dựng quy định sử dụng AI trong dạy học, học tập, kiểm tra, đánh giá.
Giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên và xây dựng xã hội học tập tiếp tục được quan tâm. Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 72,57%, trong đó trường phổ thông đạt chuẩn quốc gia đạt 79,15%. Có 1.418 học sinh dân tộc thiểu số sau tốt nghiệp THCS tham gia học nghề, vượt kế hoạch năm; đào tạo nghề cho 2.967/6.020 lao động nông thôn, đạt 49,29% kế hoạch. Công tác số hóa văn bằng, chứng chỉ, xây dựng xã hội học tập, khuyến học - khuyến tài và liên kết đào tạo nghề với nhu cầu doanh nghiệp được triển khai.
- Về văn hóa - thể thao: Trong 9 tháng năm 2026, lĩnh vực văn hóa, thể thao của tỉnh đạt nhiều kết quả tích cực. Công tác quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tiếp tục được chú trọng. Tỉnh đã công bố danh mục kiểm kê di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; rà soát, lập hồ sơ đề nghị xếp hạng một số di tích cấp tỉnh, cấp quốc gia; triển khai công tác lập quy hoạch khảo cổ và tăng cường quản lý, bảo vệ di tích. Đặc biệt, đã tham mưu triển khai Đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản Không gian văn hóa cồng chiêng tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030, duy trì Chương trình “Cồng chiêng cuối tuần - Thưởng thức & Trải nghiệm”, chuẩn bị Festival quốc tế Cồng chiêng Tây Nguyên năm 2026 và Ngày hội Văn hóa các dân tộc tỉnh Gia Lai lần thứ I. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả ở một số địa phương. Các hoạt động thể thao quần chúng, các giải thi đấu thể thao trong tỉnh được triển khai theo kế hoạch. Nhiều giải thể thao quy mô quốc gia, quốc tế được tổ chức thành công, nổi bật là Liên hoan quốc tế Võ cổ truyền Việt Nam lần thứ IX và Đại hội Thể thao tỉnh Gia Lai lần thứ I. Thể thao thành tích cao đạt 524 huy chương tại 57 giải quốc gia và 22 huy chương tại 8 giải khu vực, quốc tế.
- Về y tế: Trong 9 tháng năm 2026 tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân; tham mưu ban hành nhiều cơ chế, chính sách quan trọng về phát triển hệ thống y tế, thu hút và đào tạo nhân lực, chế độ đối với cộng tác viên dân số, luân phiên bác sĩ về tuyến xã; triển khai Nghị quyết số 72-NQ/TW về các giải pháp đột phá trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Đáng chú ý, tỉnh ban hành chính sách thu hút, ưu đãi bác sĩ, dược sĩ và Đề án đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế công lập giai đoạn 2026-2030. Mạng lưới y tế cơ sở được củng cố, 100% Trạm y tế có bác sĩ, số giường bệnh đạt 35,1 giường/vạn dân. Công tác khám sức khỏe định kỳ, phòng chống dịch, khám chữa bệnh, an toàn thực phẩm, dân số và an sinh xã hội được triển khai tích cực; chuyển đổi số có bước tiến rõ nét với 100% cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở triển khai bệnh án điện tử giai đoạn cơ bản và trên 843 nghìn Sổ sức khỏe điện tử được tạo lập trên VNeID. Hạ tầng y tế tiếp tục được đầu tư, Bệnh viện Sản - Nhi tỉnh được thành lập và nhiều dự án nâng cấp cơ sở y tế được triển khai.
Công tác an toàn thực phẩm, dinh dưỡng, dân số và an sinh xã hội được triển khai thường xuyên. Ngành đã kiểm tra 157 cơ sở thực phẩm, phát hiện 55 cơ sở vi phạm và xử phạt trên 314 triệu đồng; tăng cường giám sát an toàn thực phẩm tại các sự kiện lớn. Công tác dinh dưỡng, sàng lọc trước sinh và sơ sinh tiếp tục được triển khai, tuy nhiên năng lực sàng lọc giữa các cơ sở còn chưa đồng đều. Toàn tỉnh có 213.406 đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp; các chương trình chăm sóc, bảo vệ trẻ em tiếp tục được thực hiện.
- Về lao động, việc làm, an sinh xã hội: Công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách tiếp tục được thực hiện. Tiếp tục giải quyết chế độ trợ cấp cho các trường hợp người có công với cách mạng và thân nhân theo quy định và kịp thời; tổ chức các hoạt động tri ân, chăm sóc người có công, hỗ trợ từ Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, trong đó tặng quà cho 440 lượt người có công tại các xã đặc biệt khó khăn và bệnh viện. Các Hội nghị, diễn đàn về hướng nghiệp; tư vấn xuất khẩu lao động; nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý về an toàn, vệ sinh lao động… tiếp tục được duy trì và triển khai có hiệu quả. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã tuyển sinh, đào tạo 29.273 người, trong đó chú trọng lao động nông thôn, đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo và các ngành nghề phục vụ các lĩnh vực kinh tế trọng điểm.
Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em tiếp tục được quan tâm, triển khai thực hiện. Trong đó, tập trung đẩy mạnh thực hiện các nội dung thuộc Chương trình phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em; Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em; Chương trình Bảo vệ trẻ em...; tổ chức thăm và tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nhân các dịp lễ, tết.
- Về khoa học - công nghệ: Triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW đạt nhiều kết quả. Đối với 276 nhiệm vụ Trung ương, Chính phủ giao, đã hoàn thành 172 nhiệm vụ, đạt 62,32%, không có nhiệm vụ quá hạn chưa hoàn thành. Theo Kế hoạch số 42-KH/TU của Tỉnh ủy, đã hoàn thành 48/94 nhiệm vụ; tiếp tục duy trì Trung tâm giám sát, điều hành thông minh IOC với 7 nhóm dịch vụ và ứng dụng iGiaLai đạt hơn 65 nghìn lượt cài đặt. Hệ sinh thái khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo có chuyển biến tích cực. Tổ chức thành công Chuỗi sự kiện và Hackathon Lượng tử Quốc tế 2026, thu hút hơn 400 đăng ký, 26 đội vào vòng chung kết, ký 5 biên bản ghi nhớ hợp tác và ra mắt Trung tâm Giải mã lượng tử Quang Trung. Chương trình ươm tạo khởi nghiệp sáng tạo lựa chọn 10 dự án để hỗ trợ; tổ chức nhiều hoạt động đào tạo, cố vấn doanh nghiệp, hội nghị và triển lãm khoa học quốc tế. Đồng thời, tỉnh tăng cường hợp tác với FPT, Viettel, Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, các trường đại học để triển khai các lĩnh vực AI, bán dẫn, an ninh mạng, STEM.
Công tác sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng được tăng cường. Tỉnh tiếp tục quản lý 4 chỉ dẫn địa lý, 51 nhãn hiệu chứng nhận và 26 nhãn hiệu tập thể; hoàn thiện bảo hộ một số sản phẩm như Sầu riêng Gia Lai, Gạo màu hữu cơ Gia Lai, cấp quyền sử dụng nhãn hiệu “Chanh dây Gia Lai”, “Phở khô Gia Lai”. Công tác thanh tra, kiểm tra sở hữu trí tuệ, đo lường, chất lượng hàng hóa được thực hiện thường xuyên; kiểm định hơn 11.700 phương tiện đo, đồng thời triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất, chất lượng, truy xuất nguồn gốc và đổi mới đo lường.
Chuyển đổi số và hạ tầng số có bước phát triển rõ nét. Tỉnh hiện có 02 khu công nghệ số tập trung, thu hút khoảng 1.200 nhân lực chất lượng cao; triển khai các dự án lớn về công nghệ số, AI và đô thị thông minh. Hệ thống Trợ lý ảo AI cấp tỉnh đã được đưa vào vận hành, phục vụ 100% sở, ngành và 135 xã, phường. Phong trào “Bình dân AI học vụ” đã tổ chức 23 lớp với hơn 10.500 lượt người tham gia; hơn 7.400 cán bộ, công chức, viên chức được tập huấn kỹ năng số. Tỉnh đồng thời triển khai GIS, UAV và dữ liệu không gian phục vụ quản lý nhà nước.
- Về dân tộc – tôn giáo: Trong 9 tháng năm 2026, tình hình vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi và hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Công tác rà soát, phân định địa bàn và đối tượng thụ hưởng chính sách sau sắp xếp được hoàn thành; các chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, hạ tầng, an sinh xã hội, người có uy tín và bảo tồn văn hóa tiếp tục được triển khai. Nguồn vốn chuyển tiếp Chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã giải ngân 161,24/398,1 tỷ đồng, đạt 40,5%. Công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo được tăng cường, các hoạt động tôn giáo cơ bản diễn ra ổn định, đúng quy định; cải cách hành chính, chuyển đổi số và xây dựng cơ sở dữ liệu chuyên ngành được đẩy mạnh.
Nguyễn Thị Bình – Phòng Tổng hợp
Tin cũ hơn
- 04/08Quyết định số 734/QĐ-TTg ngày 31/7/2024 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Quy hoạch tỉnh Bình Định thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
- 01/12Kế hoạch triển khai thực hiện Quy hoạch tỉnh Bình Định thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.
- 26/06Quyết định về việc phê duyệt đồ án điều chỉnh cục bộ quy hoạch chung đô thị Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định đến năm 2035
- 26/06Quyết định về việc phê duyệt quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử Nơi thành lập Chi bộ Chính Nghĩa thuộc xã An Tân, huyện An Lão, tỉnh Bình Định
- 29/03Quyết định về việc phê duyệt quy hoạch phân khu xây dựng tỷ lệ 1/2000 Khu công nghiệp Phù Mỹ, huyện Phù Mỹ
- Tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2026 trên địa bàn tỉnh
- Sở Tài chính Gia Lai phối hợp với Trường Đào tạo và Bồi dưỡng nghiệp vụ Kiểm toán tổ chức Hội nghị tập huấn nâng cao năng lực quản trị tài chính công, tài sản công cho đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã
- Kiểm toán Nhà nước phối hợp với các tỉnh Gia Lai, Khánh Hòa và Đắk Lắk tổ chức Hội nghị sơ kết, ký quy chế phối hợp trong giai đoạn mới và trao tặng Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Kiểm toán nhà nước” tại tỉnh Gia Lai
- Tăng cường kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong lĩnh vực giá năm 2026 (đợt 2)
- Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2026 trên địa bàn tỉnh





