1. Về sản xuất nông, lâm, thủy sản, quản lý tài nguyên và môi trường
Trong tháng 8, ngành Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục phối hợp các địa phương tập trung chỉ đạo triển khai sản xuất vụ Hè Thu và vụ Mùa năm 2026; phát triển đàn vật nuôi gắn với công tác phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm; thực hiện các giải pháp cấp bách về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU) và các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác xa bờ; triển khai công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng, phát triển trồng rừng sản xuất; công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; công tác quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tăng cường, triển khai thực hiện có hiệu quả. Nhìn chung, tình hình sản xuất nông, lâm, thủy sản, quản lý tài nguyên và môi trường tháng 8/2026 tiếp tục duy trì được sự ổn định và phát triển.
Về trồng trọt: Các địa phương đã xuống giống gieo trồng khoảng 58.434 ha cây trồng vụ Hè Thu, đạt 100,7% kế hoạch (viết tắt KH) và 166.785 ha cây trồng vụ Mùa, đạt 82,5% KH; diện tích thu hoạch vụ Hè Thu là 14.704 ha, đạt 25% diện tích vụ. Nhờ chủ động triển khai thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng trừ sâu bệnh gây hại trên cây trồng ngay từ đầu vụ gieo trồng; chủ động kiểm tra, thực hiện tốt công tác điều tra, dự tính dự báo; hướng dẫn người dân phòng trừ kịp thời, hiệu quả, không để lây lan trên diện rộng. Nhìn chung, các đối tượng sinh vật hại cây trồng phát sinh gây hại cục bộ, tỷ lệ hại thấp.
Về thiết lập, xây dựng mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói nông sản: Trong kỳ, được cấp mới 35 mã số vùng trồng xuất khẩu và 07 mã số cơ sở đóng gói (sầu riêng). Lũy kế đến nay, trên địa bàn tỉnh đã được cấp/phê duyệt 436 mã số vùng trồng, với diện tích 13.174,23 ha (381 mã số vùng trồng xuất khẩu, 55 mã số vùng trồng nội địa); 60 mã số cơ sở đóng gói trái cây xuất khẩu.
Về chăn nuôi: Trong tháng, công tác quản lý kiểm soát chăn nuôi, phát triển tái đàn gắn với phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tăng cường, tình hình chăn nuôi phát triển ổn định. Tổng đàn vật nuôi kỳ tháng 8/2026: Đàn bò ước đạt 802.000 con, đạt 96,6% KH, tương đương so cùng kỳ (viết tắt CK). Đàn lợn (không kể lợn con chưa tách mẹ) đạt 1,781 triệu con, đạt 81,7% KH, tăng 24,8% CK. Đàn gia cầm đạt 19 triệu con, đạt 96,2% KH, tăng 8,8% CK.
Toàn tỉnh hiện có 1.212 trang trại, dự án chăn nuôi hoạt động gồm: 80 dự án chăn nuôi và 1.132 cơ sở chăn nuôi theo quy mô trang trại; chăn nuôi theo hình thức công nghiệp, trang trại chiếm 33,7%; có 06 chuỗi liên kết giữa các doanh nghiệp với người chăn nuôi, với tổng 210 trại liên kết và 13 hợp tác xã liên kết với các hộ sản xuất theo chuỗi; có 25 cơ sở chăn nuôi được chứng nhận theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP.
Đến nay, tỉnh đã thu hút được 311 dự án đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi (Đông Gia Lai 37 dự án, Tây Gia Lai 274 dự án) với tổng diện tích 13.780,77 ha, tổng vốn đầu tư xây dựng 67.564 tỷ đồng.
Về lâm nghiệp: Công tác bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng tiếp tục thực hiện nghiêm túc; trong tháng xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích thiệt hại 198,5 ha, Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 04 vụ; phát hiện, bắt giữ 24 vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp, lũy kế từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 212 vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp. Đã xử lý 114 vụ vi phạm (108 vụ vi phạm hành chính và 06 vụ vi phạm hình sự), đang xác minh, xử lý 98 vụ.
Công tác sử dụng và phát triển rừng tiếp tục được quan tâm. Trong tháng, đã trồng được được 5.218 ha rừng trồng, sản lượng gỗ khai thác được 144.200 m3. Lũy kế từ đầu năm đến nay, đã trồng được 11.605 ha rừng tập trung và cây phân, đạt 27,3% KH, tăng gấp 3,16 lần so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác được 2.139.000 m3, đạt 81% KH, tăng gấp 2,02 lần so với cùng ký; sản xuất được 140 triệu cây giống các loại, đạt 85,3% KH.
Về thủy sản: Trong tháng 8, hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định. Tổng sản lượng thuỷ sản ước đạt 31.349 tấn, luỹ kế ước đạt 216.399 tấn, đạt 68,9% KH, tăng 2,5% CK. Trong đó: Sản lượng khai thác thuỷ sản ước đạt 29.076 tấn; luỹ kế ước đạt 204.317 tấn, đạt 69,5% KH, tăng 2,6% CK (sản lượng cá ngừ đại dương ước đạt 10.840 tấn, tăng 10% CK). Sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 2.273,4 tấn; luỹ kế ước đạt 12.082 tấn, đạt 60,4% KH, tăng 1,8% CK.
Ban hành Kế hoạch hành động triển khai thực hiện các biện pháp khắc phục khuyến nghị của Ủy ban châu Âu tại đợt thanh tra lần thứ 5 về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU).
Tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả các Chính sách hỗ trợ khai thác thuỷ sản trên địa bàn tỉnh. Ban hành Quyết định hỗ trợ ổn định đời sống đối với các hộ ngư dân có tàu cá bị thiệt hại do hỏa hoạn tại Khu neo đậu tránh trú bão Tam Quan và tại Đầm Thị Nại.
Công tác phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới: Hỗ trợ, hướng dẫn hình thành mới 03 hợp tác xã nông nghiệp; triển khai thực hiện chuỗi liên kết và tiêu thụ cà phê bền vững năm 2026 và giai đoạn 2026-2030; xây dựng liên kết tiêu thụ sản phẩm chanh leo, cà phê bền vững; hoàn thiện Phương án sản xuất theo hướng tuần hoàn gắn liên kết tiêu thụ sản phẩm mía bền vững.
Ban hành Kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS&MN; chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện 16 dự án, phương án khẩn cấp bố trí dân cư các vùng có nguy cơ cao về thiên tai trên địa bàn tỉnh.
Ban hành Bộ tiêu chí xã nông thôn mới, xã nông thôn mới hiện đại giai đoạn 2026-2030; Chương trình công tác trọng tâm năm 2026 của Ban chỉ đạo thực hiện các CTMTQG; chỉ đạo đẩy nhanh giải ngân vốn của 02 Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới và giảm nghèo bền vững kéo dài sang năm 2026; triển khai thực hiện đẩy mạnh phát triển, nâng cao chất lượng sản phẩm OCOP trên địa bàn tỉnh.
Công tác quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tăng cường. Các địa phương tiếp tục tăng cường công tác quản lý tài nguyên khoáng sản (đất, đá, cát…), kiểm tra, kịp thời xử lý nghiêm các trường hợp khai thác đất, đá, cát… trái phép hoặc không đúng quy định gây lãng phí tài nguyên, thất thu ngân sách, ô nhiễm môi trường.
Ban hành 02 văn văn QPPL về đất đai; phê duyệt: Chấp thuận tổ chức kinh tế nhận chuyển quyền sử dụng đất 01 trường hợp, diện tích 54.488,4 m2; Cho thuê đất 02 trường hợp, diện tích 73.173,5m2; Cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất 01 trường hợp, diện tích 13.686,9m2; Giao đất 01 trường hợp, diện tích 6.977,4m2.
Xử lý 24 vướng mắc trong thực hiện công tác bồi thường, GPMB và giá đất trên địa bàn các xã, phường; phê duyệt kết quả xác định đơn giá đất 12 công trình, dự án; 15 phương án/kế hoạch đấu giá quyền sử dụng đất; 10 kết quả trúng đấu giá quyền sử dụng đất.
Ban hành 53 giấy phép hoạt động khoáng sản, tài nguyên nước; 07 quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản với tổng số tiền phải nộp hơn 7,3 tỷ đồng, trong đó số tiền cấp quyền khai thác khoáng sản phải nộp năm 2026 hơn 2,6 tỷ đồng. Triển khai công tác đấu giá quyền khai thác khoáng sản (tổ chức đấu thành công đối với 52/53 khu vực mỏ). Quyết định công bố Danh mục thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý của 65 xã, phường thuộc tỉnh được triển khai thí điểm cấp phép hoạt động khoáng sản cát xây dựng và đất san lấp và Quyết định phê duyệt quy trình nội bộ giải quyết thủ tục hành chính liên thông cấp xã trong lĩnh vực Địa chất và khoáng sản thuộc phạm vi chức năng quản lý của 65 xã, phường thuộc tỉnh được triển khai thí điểm cấp phép hoạt động khoáng sản cát xây dựng và đất san lấp.
Tổ chức làm việc, xem xét kiến nghị tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp về vật liệu xây dựng thông thường phục vụ các công trình, dự án.
Chỉ đạo kiểm tra hiện trường và đề xuất giải quyết các nội dung liên quan đến hệ thống xử lý nước thải khu vực Nhơn Lý; kiểm tra việc thực hiện các nội dung theo giấy phép môi trường đã được cấp phép đối với 13 trạm trộn đặt ngoài các khu công nghiệp; phản ánh liên quan đến việc hoạt động chăn nuôi heo gây ô nhiễm môi trường.
Về thuỷ lợi, nước sạch và phòng chống thiên tai: phê duyệt Kế hoạch cấp nước an toàn khu vực nông thôn trên địa bàn tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030; Tổ chức Hội nghị phổ biến, quán triệt và triển khai Phương án ứng phó thiên tai tỉnh Gia Lai năm 2026.
2. Về sản xuất công nghiệp – xây dựng
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 8/2026 ước tăng 4,86% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng đầu năm 2026, Chỉ số IIP ước tăng 7,84% so với cùng kỳ. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,09%; ngành khai khoáng giảm 0,07%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 5,42%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 0,5% so với cùng kỳ.
Một số sản phẩm chủ yếu tăng cao so với cùng kỳ như: Ống tuýp, ống dẫn và ống vòi loại cứng tăng 55,69%; Gạch ốp lát tăng 44,85%; Bàn nhựa giả mây tăng 43,8%; Sữa chua tăng 37,86%; Sữa và kem cô đặc tăng 37,14%; Ghế nhựa giả mây tăng 42,61%; Nước cam, chanh, quít, bưởi tươi tăng 45,55%; Bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, quần dài tăng 28,23%; Điện mặt trời tăng 12,41%; Áo bó, áo chui đầu, áo cài khuy, gi-lê và các mặt hàng tương tự dệt kim hoặc móc tăng 15,93%... Ngược lại, một số sản phẩm khác sản lượng giảm so với cùng kỳ: Quần áo lót cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc giảm 22,89%; Quần tất, quần áo nịt, bít tất dài giảm 15,76%; Thuốc nước để tiêm giảm 17,93%; Bia đóng chai giảm 8,55%...
Các Khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục kêu gọi thu hút đầu tư, xây dựng nhà xưởng và hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh tạo việc làm, tăng thu nhập và an sinh xã hội. Tháng 8 năm 2026, có 04 dự án đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư 242,6 tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, có 69 dự án đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư 9.516,5 tỷ đồng; trong đó, có 15 dự án trọng điểm với tổng vốn đầu tư 8.376 tỷ đồng.
Tháng 8 năm 2026, có 04 dự án đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư 242,6 tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng đầu năm 2026, có 69 dự án đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư 9.516,5 tỷ đồng; trong đó, có 15 dự án trọng điểm với tổng vốn đầu tư 8.376 tỷ đồng.
Về Xây dựng: Hoạt động quản lý đầu tư xây dựng, vật liệu xây dựng, quy hoạch – kiến trúc và phát triển đô thị tiếp tục được tăng cường. Công tác thẩm định dự án, thiết kế xây dựng, kiểm tra nghiệm thu công trình được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định, góp phần nâng cao chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Tiếp tục triển khai Chương trình phát triển đô thị tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026-2030; tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW, Kết luận số 224-KL/TW và Chương trình hành động của tỉnh về phát triển đô thị bền vững. ban hành Quyết định số 3269/QĐ-UBND ngày 04/08/2026 về Phê duyệt Kế hoạch phát triển nhà ở tỉnh Gia Lai giai đoạn 2026 – 2030. Phối hợp tháo gỡ khó khăn về thủ tục đầu tư, đất đai, giải phóng mặt bằng, xác định giá bán nhà ở xã hội, tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi.
Công tác điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Gia Lai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được khẩn trương triển khai, đến nay hồ sơ Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Gia Lai đã hoàn thành, chủ tịch UBND tỉnh đã phê duyệt tại Quyết định số 3106/QĐ-UBND ngày 23/7/2026.
3. Về thương mại, dịch vụ, tài chính
Trong tháng 8/2026, hoạt động thương mại trên địa bàn tỉnh Gia Lai tiếp tục duy trì xu hướng tích cực, sức mua tăng, hệ thống phân phối cơ bản ổn định, xuất khẩu giữ được đà tăng trưởng và thương mại biên giới qua Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh diễn ra thông suốt. Hoạt động thương mại, bán buôn – bán lẻ và tiêu thụ hàng hóa nhìn chung sôi động, nguồn cung hàng hóa được bảo đảm, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, khách du lịch và hoạt động sản xuất kinh doanh. Đây là thời điểm cao điểm du lịch hè và các hoạt động trong Năm Du lịch quốc gia – Gia Lai 2026; nhu cầu mua sắm phục vụ năm học mới; nhu cầu tiêu dùng thực phẩm, hàng thiết yếu và dịch vụ ăn uống; sự gia tăng hoạt động dịch vụ, vận tải, lưu trú và du lịch phục vụ nhu cầu đi lại của học sinh, sinh viên.
- Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tiếp tục tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước, chủ yếu nhờ nhu cầu tiêu dùng của người dân, hoạt động du lịch nội địa và lưu thông hàng hóa diễn ra thuận lợi. Hệ thống phân phối từ chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng tiện lợi đến thương mại điện tử hoạt động ổn định, góp phần mở rộng khả năng tiếp cận hàng hóa của người tiêu dùng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8 ước đạt 20.556,9 tỷ đồng, tăng 24,2% CK. Luỹ kế 8 tháng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 150.578 tỷ đồng tăng 14,4% so với cùng kỳ.
- Kim ngạch xuất khẩu: trên toàn tỉnh tháng 8 ước đạt 273,2 triệu USD giảm 3,1% so cùng kỳ, luỹ kế 8 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.656 triệu USD tăng 5% so với cùng kỳ.
- Kim ngạch nhập khẩu: trên toàn tỉnh tháng 8 ước đạt 78,6 triệu USD, luỹ kế 8 tháng đầu năm ước đạt 716,33 triệu USD tăng 11,2% so với cùng kỳ.
Hoạt động thương mại biên giới qua Cửa khẩu quốc tế Lệ tiếp tục được duy trì thông suốt. Tỉnh đang phối hợp với tỉnh Stung Treng của Campuchia chuẩn bị tổ chức phiên chợ biên giới vào tháng 11/12026, đồng thời tăng cường kết nối doanh nghiệp, mở rộng thị trường tiêu thụ và thúc đẩy xuất nhập khẩu. Tuy nhiên, thương mại biên giới vẫn còn dư địa rất lớn để phát triển. Những hạn chế về quy mô giao thương, logistics, hạ tầng cửa khẩu, số lượng doanh nghiệp tham gia và tính đa dạng của hàng hóa vẫn cần tiếp tục được tháo gỡ. Hoạt động thương mại biên giới còn mang tính thời vụ và chưa tương xứng với tiềm năng.
Đối với hoạt động xúc tiến thương mại: Hội thảo về chuỗi cung ứng cà phê bền vững, truy xuất nguồn gốc và tuân thủ EUDR được tổ chức tại Pleiku ngày 17/8, cho thấy hoạt động xúc tiến đã chú trọng hơn tới tiêu chuẩn xanh, truy xuất nguồn gốc và yêu cầu của thị trường EU. Nhìn chung, chất lượng hoạt động xúc tiến thương mại đang được nâng lên, nhưng cần tiếp tục chuyển mạnh sang xúc tiến theo ngành hàng, thị trường và chuỗi giá trị; đặc biệt cần hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ, HTX và chủ thể OCOP chuyển từ “giới thiệu sản phẩm” sang tìm kiếm đơn hàng và xây dựng mạng lưới phân phối ổn định.
Qua công tác quản lý thị trường, nguồn cung hàng hóa thiết yếu cơ bản được bảo đảm, giá cả nhìn chung ổn định và chưa xuất hiện tình trạng tăng giá bất thường, nguồn cung hàng thiết yếu đáp ứng nhu cầu của người dân và du khách; hoạt động kinh doanh xăng dầu diễn ra ổn định.
Tuy nhiên, tăng trưởng chưa thật sự đồng đều giữa các ngành hàng. Xuất khẩu vẫn phụ thuộc đáng kể vào nông sản, thương mại biên giới còn chưa tương xứng tiềm năng; doanh nghiệp nhỏ và HTX còn hạn chế về năng lực xúc tiến, tiêu chuẩn hóa sản phẩm, logistics và thương mại điện tử. Vì vậy, trong thời gian tới ngành Công Thương cần đảm bảo nắm thông tin duy trì ổn định nguồn cung và giá hàng thiết yếu; tổ chức đẩy mạnh kết nối tiêu thụ nông sản, OCOP và đặc trưng của địa phương; tuyên truyền thông tin để hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu, truy xuất nguồn gốc và EUDR; phối hợp khai thác mạnh Cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh và thị trường Campuchia – Lào; đồng thời tăng cường xúc tiến thương mại số, thương mại điện tử và kết nối trực tiếp với các hệ thống phân phối lớn.
Về du lịch: Trong tháng 8/2026, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Toàn tỉnh ước đón 1,86 triệu lượt khách, tăng 61% CK. Lũy kế 8 tháng, toàn tỉnh ước đón 12,41 triệu lượt khách, tăng 24,8% CK. Tổng thu từ khách du lịch 8 tháng đầu năm ước đạt 26.810 tỷ đồng, tăng 24,5% CK.
Về vận tải hành khách: 8 tháng đầu năm, dịch vụ vận chuyển hành khách ước đạt 68,03 triệu hành khách, tăng 25,8% CK và luân chuyển 9.315,6 triệu HK.km, tăng 32,1% CK. Vận chuyển hàng hoá ước đạt 41,64 triệu tấn, tăng 14,3% CK; luân chuyển 6.242,3 triệu tấn.km, tăng 18,1% CK. Doanh thu vận tải ước đạt 15.207,7 tỷ đồng, tăng 20,4% CK.
Tổng thu ngân sách nhà nước thực hiện đến ngày 31/8 đạt 20.153 tỷ đồng đạt 72,3% dự toán năm, tăng 15,8% CK. Trong đó: Thu nội địa (trừ tiền sử dụng đất, thu xổ số kiến thiết, thu cổ tức và lợi nhuận sau thuế) thực hiện là 13.416 tỷ đồng, đạt 87,9% dự toán năm, tăng 53% CK; thu tiền sử dụng đất thực hiện 5.631 tỷ đồng, đạt 49,4% dự toán năm, giảm 31,3% CK; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu là 601 tỷ đồng, đạt 118,7% dự toán năm. Tổng chi ngân sách địa phương thực hiện đến ngày 31/8 là 24.469 tỷ đồng, đạt 54,2% dự toán năm.
Về hoạt động tài chính, tín dụng, tiếp tục thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về lãi suất huy động và cho vay; triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời và có hiệu quả các giải pháp, cơ chế, chính sách của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Ước đến ngày 31/8/2026, tổng nguồn vốn huy động tại địa phương là 234.100 tỷ đồng, tăng 9,9% so với cuối năm 2025; tổng dư nợ là 268.000 tỷ đồng, tăng 4,9% so với cuối năm 2025; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ 1,56%.
4. Về thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển
Kế hoạch đầu tư phát triển năm 2026 nguồn ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương đã được UBND tỉnh giao cho các đơn vị, địa phương tại Quyết định số 3009/QĐ-UBND ngày 12/12/2025. Tổng kế hoạch vốn năm 2026 tỉnh Gia Lai (kể cả vốn kéo dài) là 30.344,241 tỷ đồng (Trong đó: Kế hoạch vốn năm 2026 là 28.790,826 tỷ đồng; Kế hoạch vốn kéo dài là 1.553,415 tỷ đồng).
Ngay sau từ đầu năm 2026, UBND tỉnh đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-UBND ngày 10/01/2026 về việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công vốn ngân sách nhà nước do tỉnh quản lý năm 2026. UBND tỉnh đã giao nhiệm vụ, phân công lãnh đạo chịu trách nhiệm theo dõi tiến độ thực hiện cho từng dự án ngay từ đầu năm, nhất là các dự án trọng điểm của tỉnh, các Chương trình mục tiêu quốc gia. Tổng giá trị giải ngân đến ngày 31/8/2026 là: 17.069,702 tỷ đồng (Trong đó: Kế hoạch vốn năm 2026 là 16.225,337 tỷ đồng; Kế hoạch vốn kéo dài là 844,365 tỷ đồng). Đạt 62,85% so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao trong năm 2026 (16.225,337/25.817,364 tỷ đồng). Đạt 56,25% so với Kế hoạch Hội đồng nhân dân tỉnh giao kể cả vốn kéo dài (17.069,702/30.344,241 tỷ đồng). Trong đó: (i) Vốn ngân sách tỉnh có giá trị giải ngân là: 6.646,213/15.359,947 tỷ đồng, đạt 43,27%; (ii) Vốn ngân sách trung ương (bao gồm vốn ODA) có giá trị giải ngân là: 10.423,489/14.984,294 tỷ đồng, đạt 69,56%.
Trong năm 2026, kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ và HĐND tỉnh giao thực hiện được điều chỉnh, bổ sung nhiều đợt so với thời điểm đầu năm:
- So với Kế hoạch HĐND tỉnh giao: Kế hoạch vốn tổng cộng tăng 17.064,490 tỷ đồng (tương đương tăng 128,50%). Trường hợp so sánh với kế hoạch giao đầu năm, tỷ lệ giải ngân của tỉnh đạt 128,54% (17.069,702/13.279,751 tỷ đồng).
- So với Kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao: Kế hoạch vốn tổng cộng tăng 12.634,633 tỷ đồng (tương đương tăng 95,84%). Trường hợp so sánh với kế hoạch giao đầu năm, tỷ lệ giải ngân của tỉnh đạt 123,08% (16.225,337/13.182,731 tỷ đồng).
UBND tỉnh đã yêu cầu các Chủ đầu tư xây dựng kế hoạch tăng tốc, tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện, hoàn thiện hồ sơ thanh toán và cam kết giải ngân hết kế hoạch vốn được giao trong năm 2026.
Đối với các dự án giao thông trọng điểm: Dự án đường bộ cao tốc Quy Nhơn - Pleiku: Dự án thành phần 1 và 3 tiếp tục thi công nền đường, cầu, cống và các cấu kiện đúc sẵn. Dự án thành phần 2 khởi công ngày 19/8/2026. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đã phê duyệt phương án, chi trả và bàn giao mặt bằng sạch đối với các dự án thành phần 1, 2 và 3; 12 khu tái định cư mới cơ bản hoàn thành và giao đất để người dân xây dựng nhà ở.
- Dự án đường cất hạ cánh số 2 và các công trình đồng bộ tại Cảng hàng không Phù Cát: huy động khoảng 857 nhân lực, 320 ô tô vận chuyển, tổ chức 37 mũi thi công; lũy kế khối lượng đắp nền khoảng 4,60 triệu m³, còn khoảng 0,61 triệu m³. Đã hoàn thành 03 khu tái định cư với tổng diện tích khoảng 12,3 ha; đang khẩn trương hoàn thiện các thủ tục để đưa công trình vào khai thác thương mại ngày 29/10/2026.
- Dự án đường cao tốc Pleiku - Lệ Thanh: đề xuất đầu tư theo phương thức PPP, tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 17.041 tỷ đồng; chuẩn bị đầu tư giai đoạn 2026-2027, phấn đấu cơ bản hoàn thành xây dựng trước năm 2030.
- Một số dự án khác: Tuyến đường kết nối từ cao tốc Bắc - Nam về KCN Phù Mỹ và Bến Cảng Phù Mỹ đã bàn giao mặt bằng khoảng 10,25/16,37 km, đạt 60,97%, khối lượng thực hiện khoảng 7,81%; Dự án Tuyến Quốc lộ 1 - đường ven biển kết nối Cảng Đề Gi đã bàn giao mặt bằng khoảng 7,85 km; Dự án Mở rộng, cải tạo nút giao thông khu vực ngã 5 Đống Đa - Hoa Lư tiếp tục hoàn thiện công tác chuẩn bị đầu tư, lựa chọn nhà thầu và hồ sơ tổ chức giao thông.
5. Về thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp
Trong tháng 8, toàn tỉnh thu hút mới 19 dự án với tổng vốn đầu tư là 9.818,94 tỷ đồng. Từ đầu năm đến nay toàn tỉnh thu hút 198 dự án vượt 16,47% KH (tăng 46,67% so với cùng kỳ), với tổng vốn đầu tư 180.510,71 tỷ đồng (tăng gấp 2,42 lần so với cùng kỳ). Trong đó có 192 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư 176.501,05 tỷ đồng và 06 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 4.009,65 tỷ đồng (tương đương 154,22 triệu USD).
- Dự án phân theo lĩnh vực gồm: 102 dự án thuộc lĩnh vực Công nghiệp, tổng vốn đầu tư 149.528,87 tỷ đồng; 16 dự án thuộc lĩnh vực Xây dựng - hạ tầng, tổng vốn đầu tư 9.065,65 tỷ đồng; 52 dự án thuộc lĩnh vực Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, tổng vốn đầu tư 10.005,03 tỷ đồng; 04 dự án thuộc lĩnh vực Bất động sản, kinh tế đô thị, tổng vốn đầu tư 3.762 tỷ đồng; 20 dự án thuộc lĩnh vực Thương mại dịch vụ, du lịch, tổng vốn đầu tư 7.677,33 tỷ đồng; 01 dự án thuộc lĩnh vực Công nghệ thông tin, tổng vốn đầu tư 0,25 tỷ đồng; 01 dự án thuộc lĩnh vực Dịch vụ cảng và logistics, tổng vốn đầu tư 28 tỷ đồng; 01 dự án thuộc lĩnh vực Y tế, vốn đầu tư 117,59 tỷ đồng; 01 dự án thuộc lĩnh vực Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ 326 tỷ đồng.
- Phân theo địa bàn: Có 182 dự án ngoài KKT, KCN (32 dự án trong CCN vốn đầu tư 5.589,68 tỷ đồng, 150 dự án ngoài CCN vốn đầu tư 167.289,67 tỷ đồng) với tổng vốn đầu tư 172.879,35 tỷ đồng và 16 dự án trong KKT, KCN với tổng vốn đầu tư 7.631,36 tỷ đồng.
Về quản lý đăng ký doanh nghiệp: Trong tháng 8 đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 252 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký đạt 2.508 tỷ đồng. Tạm ngừng kinh doanh 46 doanh nghiệp; giải thể 360 doanh nghiệp; hoạt động trở lại 32 doanh nghiệp. Lũy kế đến nay đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 2.629 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 37,55% KH (tăng khoảng 21,6% CK) với tổng số vốn đăng ký đạt 39.089 tỷ đồng, đạt 78,18% KH (tăng gấp 2,6 lần so với cùng kỳ). Tạm ngừng kinh doanh 1.096 doanh nghiệp; giải thể 842 doanh nghiệp; hoạt động trở lại 495 doanh nghiệp.
Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Tổng số nhiệm vụ được giao: 06 nhiệm vụ; trong đó: đã hoàn thành đúng hạn 06 nhiệm vụ.
6. Về văn hoá - xã hội
Về Giáo dục: tiếp tục đổi mới công tác quản lý giáo dục và đào tạo, tăng cường các điều kiện đảm bảo cho phát triển giáo dục, nâng cao năng lực đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, triển khai thực hiện các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục theo quy định của Nhà nước. Hoàn thành công tác tuyển sinh các lớp đầu cấp năm học 2026-2027, tổ chức Hội nghị tổng kết năm học và Lễ tuyên dương học sinh giỏi năm học 2025-2026, hoàn thành công tác bồi dưỡng chính trị, chuyên môn cho giáo viên tronghè, triển khai nhiệm vụ năm học 2026-2027; chuẩn bị đầy đủ các điều kiện về cơsở vật chất và đội ngũ để khai giảng năm học 2026-2027 và khánh thành 07 trường nội trú biên giới đất liền trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Báo cáo giám sát thường xuyên việc thực hiện Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh; chuẩn bị báo cáo sơ kết 01 năm thực hiện Nghị quyết phục vụ Lễ Tổng kết năm học 2025-2026.
Về văn hóa - thể thao: Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả ở một số địa phương. Tiếp tục tổ chức Chương trình “Cồng chiêng cuối tuần - Thưởng thức và Trải nghiệm” vào lúc 19h00 - 21h00 thứ Bảy hàng tuần. Đây là hoạt động thiết thực góp phần thực hiện Chương trình hành động quốc gia đã cam kết với UNESCO về bảo tồn và phát huy có hiệu quả giá trị di sản văn hóa phi vật thể Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên. Tổ chức Hội thảo quốc tế “Kết nối miền cao: Vai trò của miền Trung trong tiến trình hình thành Việt Nam toàn cầu”.
Xây dựng Kế hoạch tổ chức môn Bóng đá nam và Bóng chuyền trong Chương trình Đại hội Thể thao tỉnh Gia Lai lần thứ I; kế hoạch đăng cai tổ chức Giải Cờ vua tướng miền Trung và Tây Nguyên mở rộng lần thứ VIII năm 2026, đăng cai tổ chức Giải vô địch các Câu lạc bộ Võ cổ truyền quốc gia lần thứ XV năm 2026 tại Gia Lai.
Về y tế: Cụ thể hóa Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trên địa bàn tỉnh làm cơ sở tổ chức triển khai thực hiện như: Kế hoạch số 06-KH/TU ngày 20/10/2025 của Tỉnh uỷ; Nghị quyết số 94/NQ-HĐND ngày 09/12/2025 của HĐND tỉnh về việc thông qua Đề án Phát triển hệ thống y tế tỉnh Gia Lai đến năm 2030; Kế hoạch số 48/KH-UBND ngày 04/02/2026 của UBND tỉnh thông qua Đề án Phát triển hệ thống y tế tỉnh Gia Lai đến năm 2030.
Công tác phòng, chống dịch bệnh được tập trung triển khai kịp thời theo hướng chủ động, sát tình hình, bám cơ sở, lấy phòng bệnh là trọng tâm, phát hiện sớm, tham mưu sớm, xử lý kịp thời. Tăng cường giám sát các bệnh truyền nhiễm lưu hành, bệnh mới nổi, tái nổi; củng cố hệ thống giám sát từ tuyến tỉnh đến tuyến xã. phường; Chuẩn bị sẵn sàng nhân lực, vật tư, hóa chất, phương tiện, đội đáp ứng nhanh và phương án xử lý dịch theo phương châm “4 tại chỗ”. Tình hình dịch bệnh trên địa bàn cơ bản được kiểm soát, không để xảy ra dịch lớn.
Xây dựng kế hoạch triển khai khám sức khỏe định kỳ cho người dân trên địa bàn tỉnh Gia Lai năm 2026 – 2027, kế hoạch tổ chức khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho tất cả người dân tại 12 xã biên giới, hải đảo, xã đặc biệt khó khăn.
Thường xuyên chỉ đạo, giám sát, kiểm tra các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh triển khai thực hiện, tuân thủ các quy trình chuyên môn, kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải tiến quy trình khám bệnh; triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ và cải thiện các điều kiện phục vụ sinh hoạt của người bệnh; nâng cao tinh thần trách nhiệm và phong cách, thái độ phục vụ của nhân viên y tế, đi đôi với đảm bảo vệ sinh môi trường và tạo dựng cảnh quan cơ sở y tế “xanh, sạch, đẹp” hướng tới sự hài lòng của người bệnh. Duy trì thường xuyên hoạt động truyền thông về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và giám sát các nguy cơ ô nhiễm thực phẩm trong cộng đồng, kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm vi phạm về an toàn thực phẩm
Về an sinh xã hội: Công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách tiếp tục được thực hiện. Thực hiện chi trả kịp thời, đúng, đủ trợ cấp người có công với cách mạng, các cơ quan, đơn vị nhận phụng dưỡng các bà Mẹ Việt Nam Anh hùng tổ chức thăm, tặng quà các Mẹ Việt Nam Anh hùng còn sống. Nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, các hoạt động tri ân được tổ chức trang trọng, ý nghĩa, đúng quy định.
Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em tiếp tục được quan tâm, triển khai thực hiện. Trong đó, tập trung đẩy mạnh thực hiện các nội dung thuộc Chương trình phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em; Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em; Chương trình Bảo vệ trẻ em...; tổ chức thăm và tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nhân các dịp lễ.
7. Về khoa học, công nghệ, thông tin truyền thông:
Tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai các nhiệm vụ theo Kế hoạch số 42-KH/TU ngày 12/02/2026 của Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2026 và Kế hoạch số 28/KH-UBND ngày 22/01/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh về Chuyển đổi số tỉnh Gia Lai năm 2026, bảo đảm hiệu quả, chất lượng. Tiếp tục theo dõi quản lý 02 nhiệm vụ cấp quốc gia. Tổ chức Tuần lễ Thiên văn cộng đồng quốc tế năm 2026; Chuỗi sự kiện quốc tế và Cuộc thi Hackathon quốc tế về tính toán lượng tử vì mục tiêu phát triển xã hội năm 2026. Ban hành Kế hoạch số 313/KH-UBND ngày 05/8/2026 về Kiểm tra chuyên đề việc chấp hành pháp luật về đo lường, nhãn hàng hóa và sở hữu công nghiệp đối với các cơ sở kinh doanh kính mắt trên địa bàn tỉnh Gia Lai năm 2026.
Tiếp tục tập trung tuyên truyền chủ trương về thúc đẩy sản xuất; chống kinh doanh, sản xuất hàng giả; chống buôn lậu, kiểm soát giá cả thị trường, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, ngăn ngừa các thông tin sai lệch gây tác động xấu đến sản xuất kinh doanh và tâm lý người tiêu dùng.
Nguyễn Thị Bình – Phòng Tổng hợp