In:
Chế độ xem: ☆ ★
Cỡ chữ: A | A- | A+

Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh.

Bài đăng vào lúc: 15:57:00, ngày: 20/07/2026 GMT +7


        Qua kết quả thực hiện 6 tháng đầu năm 2026, nhìn chung tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục duy trì được sự ổn định và phục hồi, phát triển. Tổng sản phẩm địa phương (GRDP) tăng 8,21% so với cùng kỳ ; trong đó: Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,14%; công nghiệp và xây dựng tăng 11,68% (trong đó công nghiệp tăng 11,74%; xây dựng tăng 11,47%); dịch vụ tăng 8,17%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,26%. Các hoạt động văn hoá - xã hội tiếp tục có chuyển biến tích cực; an sinh xã hội được bảo đảm; quốc phòng - an ninh được giữ vững
        1. Về phát triển kinh tế
        a) Về sản xuất nông, lâm, thủy sản, quản lý tài nguyên và môi trường

        Trong 6 tháng đầu năm, các địa phương tập trung chăm sóc, thu hoạch cây trồng vụ Đông Xuân và triển khai kế hoạch sản xuất trồng trọt vụ Hè Thu và vụ Mùa; phát triển đàn vật nuôi gắn với công tác phòng chống dịch bệnh trên gia súc, gia cầm; thực hiện các giải pháp cấp bách về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp (IUU) và các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác xa bờ; triển khai công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng, phát triển trồng rừng sản xuất; công tác đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; công tác quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tăng cường, triển khai thực hiện có hiệu quả.
        - Về trồng trọt: Tổng diện tích một số cây hàng năm chính đạt 216.057 ha, đạt 47,6% kế hoạch, tăng 6,5% so với cùng kỳ. Tổng diện tích một số cây công nghiệp dài ngày chính đạt 252.364 ha, đạt 100,5% kế hoạch, tương đương so cùng kỳ; cây ăn quả chính đạt 31.950 ha, đạt 95,5% kế hoạch, tăng 1,3% so với cùng kỳ.
        Thời tiết đầu năm tương đối thuận lợi, thường xuyên có mưa, nguồn nước tưới đảm bảo, nông dân tích cực đầu tư chăm sóc nên cây trồng sinh trưởng phát triển tốt. Năng suất các cây trồng đều đạt, vượt kế hoạch và tăng so với cùng kỳ. Sản lượng một số cây trồng hàng năm chính đạt 3.333.534 tấn, đạt 42,3% kế hoạch, tăng 20,9% so với cùng kỳ. Sản lượng một số cây công nghiệp dài ngày chính đạt 171.900 tấn, đạt 25,4% kế hoạch, tăng 7,6% so với cùng kỳ. sản lượng một số loại cây ăn quả chính đạt 236.900 tấn, đạt 34,8% kế hoạch, tăng 7,2% so với cùng kỳ.
        Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã thực hiện chuyển đổi khoảng 5.100 ha diện tích cây trồng kém hiệu quả (vụ Đông Xuân 2025 – 2026) chuyển sang cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn, thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu, phù hợp với nhu cầu thị trường, đạt 62% kế hoạch.
        Nhờ chủ động triển khai thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng trừ sâu bệnh gây hại trên cây trồng ngay từ đầu vụ gieo trồng; chủ động kiểm tra, thực hiện tốt công tác điều tra, dự tính dự báo; hướng dẫn người dân phòng trừ kịp thời, hiệu quả, không để lây lan trên diện rộng, nền các đối tượng sinh vật hại cây trồng phát sinh gây hại cục bộ, tỷ lệ hại thấp.
        Từ đầu năm đến nay, đã kết nối, hỗ trợ xây dựng và được cấp 90 mã số vùng trồng xuất khẩu và 13 cơ sở đóng gói nông sản; lũy kế đến nay, trên địa bàn tỉnh đã được cấp 400 mã số vùng trồng, với tổng diện tích 12.162,91 ha; 53 mã số cơ sở đóng gói trái cây xuất khẩu, chủ yếu sang thị trường Trung Quốc, Úc, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand,... Toàn tỉnh hiện có khoảng 226 chuỗi liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ sản phẩm/diện tích 253.100 ha; góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, ổn định đầu ra và phát triển chuỗi giá trị nông sản bền vững. Xây dựng 35 mô hình sản xuất lúa giảm phát thải trên diện tích khoảng 1.700 ha lúa.
        - Về chăn nuôi: Công tác quản lý kiểm soát chăn nuôi, phát triển tái đàn gắn với phòng, chống dịch bệnh trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tăng cường, tình hình chăn nuôi phát triển ổn định. Tổng đàn vật nuôi ước tính 6 tháng năm 2026 như sau: Đàn bò đạt 789.164 con, đạt 95,1% kế hoạch, tăng 0,1% so với cùng kỳ. Đàn lợn đạt 1.729.364 con, đạt 79,2% kế hoạch, tăng 15,6% so với cùng kỳ. Đàn gia cầm đạt 18.428.800 con, đạt 93,3% kế hoạch, tăng 6% so với cùng kỳ. Tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 3 loại vật nuôi chủ lực Quý II đạt 124.082 tấn, tăng 1,9% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đạt 256.993 tấn, đạt 44,1% kế hoạch, tăng 5,1% so với cùng kỳ.
        Đến nay, tỉnh đã thu hút được 308 dự án đầu tư vào lĩnh vực chăn nuôi, với tổng diện tích 11.675,59 ha. Toàn tỉnh hiện có 884 trang trại, dự án chăn nuôi hoạt động gồm: 77 dự án chăn nuôi và 807 cơ sở chăn nuôi theo quy mô trang trại; có 06 chuỗi liên kết giữa các doanh nghiệp với người chăn nuôi, với tổng 210 trại liên kết và 13 hợp tác xã liên kết với các hộ sản xuất theo chuỗi; có 25 cơ sở chăn nuôi được chứng nhận theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP. Chăn nuôi theo hình thức công nghiệp, trang trại chiếm 32,12%.
        - Về lâm nghiệp: Công tác kiểm tra, bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, nhất là những vùng trọng điểm, có nguy cơ cháy rừng cao; thường xuyên theo dõi cấp dự báo cháy rừng; tổ chức tuần tra, kiểm soát, truy quét, ngăn chặn tình trạng khai thác, vận chuyển lâm sản được tăng cường có hiệu quả; từ đầu năm đến nay không xảy ra cháy rừng; trong Quý II/2026, đã xảy ra 89 vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp. Lũy kế từ đầu năm đến nay, đã xảy ra 153 vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp (tăng 06 vụ so với cùng kỳ). Đã xử lý 83 vụ vi phạm (78 vụ vi phạm hành chính và 05 vụ vi phạm hình sự); đang xác minh, xử lý 70 vụ.
        Trong Quý II đã trồng được 4.750 ha; lũy kế từ đầu năm đến nay, đã trồng được 6.130 ha rừng trồng (tập trung 6.122 ha; cây phân tán 8 ha), đạt 14,4% kế hoạch, tăng 32,7% so với cùng kỳ. Sản lượng gỗ khai thác Quý II đạt 1.590 nghìn m3; lũy kế đạt 1.947 nghìn m3, đạt 73,7% kế hoạch, tăng 60% so với cùng kỳ; sản xuất hơn 109,3 triệu cây giống các loại. Diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững là 23.331,12 ha (rừng trồng 23.078,08 ha; rừng tự nhiên 253,04 ha).
        - Về thủy sản: Từ đầu năm đến nay, thời tiết biển tương đối thuận lợi cho hoạt động khai thác thủy sản; hoạt động sản xuất nuôi trồng thuỷ sản được quan tâm chú trọng đầu tư. Tổng sản lượng thuỷ sản Quý II đạt 91.276 tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ; luỹ kế 6 tháng ước đạt 156.016 tấn, đạt 49,7% kế hoạch, tăng 2,5% so với cùng kỳ. Trong đó: Sản lượng khai thác thuỷ sản Quý II đạt 84.871 tấn; luỹ kế ước đạt 148.061 tấn, đạt 50,3% kế hoạch, tăng 2,6% so với cùng kỳ. Sản lượng nuôi trồng thủy sản Quý II đạt 6.405 tấn; luỹ kế đạt 7.955 tấn, đạt 39,7% kế hoạch, tăng 1,4% so với cùng kỳ.
        Tỉnh đã chỉ đạo tập trung mọi nguồn lực để chuẩn bị nội dung, hồ sơ và hiện trường làm việc với Đoàn Thanh tra của Ủy ban Châu Âu (EC) lần thứ 5; ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban châu Âu (EC) trên địa bàn tỉnh năm 2026; tổ chức Đoàn công tác liên ngành kiểm tra, xử lý các tồn tại, hạn chế trong thực hiện nhiệm vụ chống khai thác IUU trên địa bàn tỉnh.
        - Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tiếp tục triển khai có hiệu quả: Triển khai thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2026–2030; đến nay có 90/111 xã, phường thuộc diện thực hiện Chương trình đã xây dựng kế hoạch thực hiện. Theo kế hoạch, giai đoạn 2026–2030 toàn tỉnh phấn đấu có 77 xã đạt chuẩn nông thôn mới và 9 xã đạt chuẩn nông thôn mới hiện đại. 
        Chương trình OCOP tiếp tục được quan tâm triển khai; đề xuất công nhận 04 sản phẩm OCOP cấp quốc gia, phê duyệt các sản phẩm OCOP cấp tỉnh và xây dựng Đề án phát triển sản phẩm OCOP giai đoạn 2026–2030. Lũy kế toàn tỉnh có 852 sản phẩm OCOP còn hiệu lực, gồm 756 sản phẩm 3 sao, 85 sản phẩm 4 sao và 11 sản phẩm 5 sao, với 443 chủ thể tham gia. 
        Đẩy mạnh chuyển đổi số trong xây dựng nông thôn mới thông qua việc cập nhật dữ liệu trên Hệ thống thông tin nông thôn mới của tỉnh, đồng thời xây dựng Sổ tay điện tử về cơ chế, chính sách và hướng dẫn thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026–2030.
        - Công tác quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tăng cường. Các địa phương tiếp tục tăng cường công tác quản lý tài nguyên khoáng sản (đất, đá, cát…), kiểm tra, kịp thời xử lý nghiêm các trường hợp khai thác đất, đá, cát… trái phép hoặc không đúng quy định gây lãng phí tài nguyên, thất thu ngân sách, ô nhiễm môi trường. Triển khai các quy định mới của Trung ương về đất đai; ban hành các quyết định phân cấp, ủy quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý đất đai cho cấp xã và Ban Quản lý Khu kinh tế. Hướng dẫn, xử lý vướng mắc về giá đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho các dự án. Chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ phương án xử lý vấn đề môi trường trên địa bàn tỉnh, nhất là trong vấn đề thu gom, vận chuyển, xử lý rác, chất thải, nước thải cả trong sản xuất và sinh hoạt; nâng cao chất lượng công tác quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản; đẩy mạnh thực hiện công tác chuyển đổi số trong quản lý đất đai; kiểm tra, xử lý kiên quyết các vụ vi phạm về đất đai, tài nguyên khoáng sản, rừng và đất rừng.
        b) Về sản xuất công nghiệp và xây dựng
        - Về sản xuất công nghiệp: Trong 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều biến động, xu hướng phục hồi còn chưa vững chắc. Xung đột leo thang tại Trung Đông làm gia tăng áp lực lên giá năng lượng và chi phí vận tải, tiềm ẩn nguy cơ lạm phát quay trở lại ở một số nền kinh tế. Tuy nhiên, nhờ các chính sách hỗ trợ tăng trưởng, cùng với sự phục hồi từng bước của chuỗi cung ứng toàn cầu, hoạt động sản xuất, thương mại và xuất khẩu có những tín hiệu tích cực hơn, tạo điều kiện thuận lợi nhất định cho tăng trưởng kinh tế. 
        Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm 2026 tăng 9,52% so với cùng kỳ, trong đó: công nghiệp khai khoáng giảm 2,2%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,55%; công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 14,34%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 4,47% so với cùng kỳ. Tình hình sản xuất ở một số ngành chế biến, chế tạo chủ yếu của tỉnh như sau:
        Một số sản phẩm chủ yếu 6 tháng tăng so với cùng kỳ: Thuỷ hải sản đã được chế biến bảo quản khác dùng làm thức ăn cho người đạt 1.848 tấn, tăng gấp 3,73 lần; Ống tuýp, ống dẫn và ống vòi loại cứng ước đạt 7.658 tấn, tăng 87,96%; Gạch ốp lát ước đạt 17.624 nghìn m2, tăng 69,9%; Nước cam, chanh, quít, bưởi tươi ước đạt 15.442 nghìn lít, tăng 38,88%; Bàn nhựa giả mây ước đạt 1,121 triệu chiếc, tăng 38,53%; Áo bó, áo chui đầu, áo cài khuy, gi-lê và các mặt hàng tương tự dệt kim hoặc móc ước đạt 4,426 triệu cái, tăng 31,91%; Ghế nhựa giả mây ước đạt 1,824 triệu chiếc, tăng 30,89%; Sữa và kem chưa cô đặc ước đạt 74.782 nghìn lít, tăng 21,39%; Điện mặt trời ước đạt 1.167 triệu KWh, tăng 20,31%; Thuỷ điện ước đạt 4.135 triệu KWh, tăng 15,12% Đường RS ước đạt 287.698 tấn, tăng 13,06%; Điện thương phẩm ước đạt 2.522 triệu KWh, tăng 11,16%;…
        - Một số sản phẩm chủ yếu 6 tháng giảm so với cùng kỳ: Tinh bột sắn, bột dong riềng ước đạt 99.985 tấn, giảm 23,52%; Đường RE ước đạt 41.708 tấn, giảm 22,11%; Thuốc nước để tiêm ước đạt 63.049 lít, giảm 14,1%; Điện gió ước đạt 1.114 triệu KWh, giảm 7,29%; Đá xây dựng khác ước đạt 1.051.250 m3, giảm 5,87%; Giầy dép có mũ bằng nguyên liệu dệt và có đế ngoài ước đạt 472.000 đôi, giảm 4,33%.
        Các Cụm công nghiệp (CNN) trên địa bàn tỉnh tiếp tục kêu gọi thu hút đầu tư, xây dựng nhà xưởng và hạ tầng kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh doanh tạo việc làm, tăng thu nhập và an sinh xã hội. Trong Quý II/2026, UBND tỉnh quyết định thành lập 04 CCN với diện tích 300 ha và điều chỉnh chủ đầu tư 01 CCN. Đến nay, có 74/99 CCN với tổng diện tích 3.420 ha được quyết định thành lập vượt mục tiêu đề ra.
        Từ đầu năm đến nay đã thu hút 15 dự án đầu tư vào cụm công nghiệp với tổng vốn đầu tư 1.118,4 tỷ đồng, tổng diện tích 53,2 ha. Tính đến nay, đã thu hút 492 dự án đăng ký đầu tư vào CCN với tổng vốn đầu tư 24.434 tỷ đồng, tổng diện tích 960 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy bình quân các CCN đã đi vào hoạt động 82%.
        Trong quý II/2026 có 30 dự án sản xuất công nghiệp với tổng vốn đầu tư 15.380 tỷ đồng đi vào hoạt động; trong đó, có 08 dự án trọng điểm với tổng vốn đầu tư 15.045 tỷ đồng. Lũy kế đến nay có 60 dự án với tổng vốn đầu tư 22.280 tỷ đồng đi vào hoạt động; trong đó, có 15 dự án trọng điểm với tổng vốn đầu tư 21.330 tỷ đồng.
        Các chương trình khuyến công, tư vấn phát triển công nghiệp tiếp tục được quan tâm triển khai thực hiện. Hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp và làng nghề tiếp tục phát triển ổn định. Các sản phẩm của các làng nghề đã đáp ứng phần lớn nhu cầu tiêu dùng của người dân trong tỉnh.
        - Về xây dựng, quy hoạch và phát triển đô thị: Hoạt động quản lý đầu tư xây dựng, vật liệu xây dựng, quy hoạch – kiến trúc và phát triển đô thị tiếp tục được tăng cường. Công tác thẩm định dự án, thiết kế xây dựng, kiểm tra nghiệm thu công trình được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định, góp phần nâng cao chất lượng công trình và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư. Đến nay, toàn tỉnh đã có 111 xã, phường được phê duyệt quy hoạch chung xã, phường. 
        Công tác điều chỉnh Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 được khẩn trương triển khai và đây là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng và cấp thiết nhằm định hình lại không gian phát triển mới theo hướng tích hợp, thống nhất và toàn diện, bảo đảm phát triển bền vững, hài hòa giữa các khu vực. Tham gia ý kiến đối với Quy hoạch tổng thể quốc gia, Quy hoạch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, Quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị và nông thôn; góp phần bảo đảm định hướng phát triển sau sắp xếp đơn vị hành chính được thể hiện đồng bộ trong quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị - nông thôn, quy hoạch khu chức năng và các định hướng thu hút đầu tư; thực hiện điều chỉnh Chương trình phát triển nhà ở tỉnh giai đoạn 2021-2030. Đến nay các dự án nhà ở xã hội trên địa bàn đã hoàn thành phần thô khoảng 1.687 căn, đạt 84,35% chỉ tiêu. Tỉnh tiếp tục đôn đốc chủ đầu tư đẩy nhanh tiến độ, tháo gỡ vướng mắc về thủ tục, đất đai, đầu tư xây dựng.
        c) Về thương mại, dịch vụ, tài chính 
        - Về thương mại: Tình hình thị trường, giá cả cơ bản ổn định, phần lớn mặt hàng nông sản đều tăng giá so với cùng kỳ, tác động tích cực đến thu nhập của người dân. Các doanh nghiệp, trung tâm thương mại, siêu thị và chợ hoạt động kinh doanh ổn định, thực hiện nhiều chương trình khuyến mại kích cầu tiêu dùng trong dịp lễ, tết. Các địa phương tổ chức phiên chợ, chợ hoa, chỉnh trang đô thị; doanh nghiệp tiếp tục triển khai hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá giới thiệu sản phẩm, bình ổn thị trường và tăng cường hoạt động thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. 
        Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 6 tháng đầu năm ước đạt 108.108,69 tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ. Trong đó, thương nghiệp đạt 80.721,74 tỷ đồng, tăng 11,5%; khách sạn, nhà hàng đạt 16.061,1 tỷ đồng, tăng 15,1%; dịch vụ lữ hành đạt 560,35 tỷ đồng, tăng 0,6%; dịch vụ khác đạt 10.765,5 tỷ đồng, tăng 15,8% so với cùng kỳ. Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tội phạm buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ trên địa bàn tỉnh tiếp tục được đẩy mạnh.
        - Về xuất, nhập khẩu: Xuất khẩu tiếp tục khởi sắc với nhiều mặt hàng chủ lực như cà phê, hồ tiêu, sản phẩm gỗ và nông sản chế biến. Kim ngạch xuất khẩu trên toàn tỉnh tháng 6 ước đạt 319,27 triệu USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ; tính chung 6 tháng ước đạt 2.146,2 triệu USD, tăng 6,7% so với cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu trên toàn tỉnh tháng 6 ước đạt 94,79 triệu USD, tăng 63,6% so với cùng kỳ; tính chung 6 tháng ước đạt 553,81 triệu USD, tăng 13,1% so với cùng kỳ. 
        - Về vận tải: 6 tháng đầu năm, dịch vụ vận chuyển hành khách ước đạt 49,056 triệu hành khách, tăng 23,3% so với cùng kỳ và luân chuyển 6.683 triệu hành khách.km, tăng 29,7% so với cùng kỳ. Vận chuyển hàng hoá ước đạt 31,557 triệu tấn, tăng 18,3% so với cùng kỳ; luân chuyển 4.640,7 triệu tấn.km, tăng 21,7% so với cùng kỳ. Doanh thu vận tải quý II ước đạt 5.836 tỷ đồng, tăng 22,8% so với cùng kỳ, luỹ kế 6 tháng ước đạt 11.140 tỷ đồng, tăng 20,5% so với cùng kỳ.
        - Về du lịch: Tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động trong khuôn khổ Năm Du lịch quốc gia - Gia Lai 2026 như: Lễ khai mạc Năm Du lịch quốc gia - Gia Lai 2026; chương trình nghệ thuật thực cảnh kết hợp trình diễn văn hóa, âm nhạc; Mega Concert “Gia Lai - Đại ngàn chạm biển xanh”; các hoạt động tuyên truyền, quảng bá du lịch, xúc tiến liên kết tour tuyến, giới thiệu sản phẩm du lịch đặc trưng; cùng chuỗi hoạt động hưởng ứng theo chủ đề “Gia Lai - Điểm đến kỳ thú”, góp phần quảng bá hình ảnh vùng đất, con người Gia Lai đến du khách trong và ngoài nước. Trong 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh ước đón hơn 8,75 triệu lượt khách, tăng 18,5% so với cùng kỳ (trong đó khách quốc tế ước đạt 129.300 lượt, tăng 78,6%). Tổng thu từ khách du lịch trong 6 tháng đầu năm 2026 đạt 19.010 tỷ đồng, tăng 19% so với cùng kỳ.
        Bên cạnh tổ chức tốt các sự kiện, sản phẩm du lịch mới, ngành du lịch đã tăng cường công tác kiểm tra việc chấp hành quy định trong hoạt động kinh doanh du lịch tại các khu, điểm du lịch, cơ sở lưu trú; kiểm tra hoạt động vận tải khách du lịch và hoạt động của hướng dẫn viên du lịch; tạo hình ảnh về một không gian đẹp nhằm nâng cao hiệu quả thu hút du khách trong và ngoài nước.
        - Về thu chi ngân sách: Ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo thực hiện các biện pháp chủ yếu điều hành dự toán ngân sách địa phương năm 2026 trên địa bàn tỉnh, tập trung thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, tạo nguồn thu ổn định, vững chắc cho ngân sách. UBND tỉnh đã xây dựng kịch bản thu ngân sách nhà nước năm 2026 cụ thể theo từng quý đồng thời phấn đấu thu ngân sách nhà nước tăng từ 27.871 tỷ đồng lên 32.297 tỷ đồng.
        Tổng thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm thực hiện 16.566,67 tỷ đồng, đạt 59,4% dự toán năm, tăng 22,6% so với cùng kỳ. Trong đó: Thu nội địa (trừ tiền sử dụng đất; thu cổ tức và lợi nhuận sau thuế, XSKT) thực hiện là 11.535,88 tỷ đồng, đạt 75,6% dự toán năm, tăng 62,9% so với cùng kỳ; thu tiền sử dụng đất thực hiện 4.203,62 tỷ đồng, đạt 36,9% dự toán năm, giảm 29% so với cùng kỳ; thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu là 458,18 tỷ đồng, đạt 90,5% dự toán năm, gấp 2,05 lần so với cùng kỳ. Tổng chi ngân sách địa phương thực hiện 6 tháng đầu năm đạt 17.505,36 tỷ đồng, đạt 38,8% dự toán năm. Trong đó chi thường xuyên đạt 13.328,98 tỷ đồng, đạt 52,0% dự toán năm.
        - Về hoạt động tài chính, tín dụng, tiếp tục thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về lãi suất huy động và cho vay; triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời và có hiệu quả các giải pháp, cơ chế, chính sách của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước. Đến ngày 30/6/2026, tổng nguồn vốn huy động tại địa phương là 226.310 tỷ đồng, tăng 12,7% so với cùng kỳ; tổng dư nợ là 262.571 tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ; tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ 1,34%.
        d) Về thực hiện kế hoạch đầu tư phát triển
        - Đầu tư xã hội: Tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh quý II năm 2026 đạt 21.471 tỷ đồng, tăng 9,3% so với cùng kỳ. Luỹ kế 6 tháng đạt 35.938 tỷ đồng, tăng 8,9% so với cùng kỳ (Trong đó, vốn Nhà nước đạt 11.020 tỷ đồng, tăng 3,1%; vốn ngoài Nhà nước đạt 24.285 tỷ đồng, tăng 11,9%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 633 tỷ đồng, tăng 5,3%).
        - Đầu tư công: Tổng kế hoạch vốn năm 2026 tỉnh Gia Lai (kể cả vốn kéo dài) là 20.362 tỷ đồng (Trong đó: Kế hoạch vốn năm 2026 là 19.110 tỷ đồng; Kế hoạch vốn kéo dài là 1.252 tỷ đồng). Ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã phân bổ và giao kế hoạch đầu tư công cho từng chủ đầu tư để các đơn vị, địa phương chủ động triển khai thực hiện. Kết quả trong 6 tháng đầu năm (cập nhật đến ngày 10/7/2026), giá trị giải ngân vốn đầu tư công do tỉnh quản lý đạt 5.585 tỷ đồng, đạt 35,9% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, đạt 27,4% kế hoạch HĐND tỉnh giao kể cả vốn kéo dài; trong đó: (i) Vốn ngân sách tỉnh đạt 26,7%, (ii) Vốn ngân sách trung ương (bao gồm vốn ODA) đạt 31,3%.
        Tuy nhiên, kết quả giải ngân nêu trên vẫn chưa phản ánh đầy đủ, sát thực chất năng lực triển khai và khả năng giải ngân của tỉnh. Nguyên nhân chính ảnh hưởng đến kết quả giải ngân nêu trên: (i) Tiến độ thu tiền sử dụng đất chưa đạt kế hoạch, nhất là nguồn thu cấp tỉnh, ảnh hưởng đến khả năng giải ngân các dự án sử dụng nguồn thu này; (ii) Một số dự án trọng điểm của tỉnh được bố trí vốn NSTW có kế hoạch vốn lớn nhưng do một số nguyên nhân khách quan nên thực hiện chưa đạt tiến độ đề ra như Dự án Trường phổ thông nội trú liên cấp TH&THCS tại 07 xã biên giới; Dự án Đầu tư xây dựng đường cất hạ cánh số 2 và các công trình đồng bộ tại khu bay Cảng hàng không Phù Cát; Dự án Tu bổ, tôn tạo di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia đặc biệt Tháp Chăm Dương Long…; (iii) Kế hoạch vốn HĐND tỉnh giao thực hiện được điều chỉnh, bổ sung tăng cao so với thời điểm đầu năm (tổng cộng tăng 7.082,6 tỷ đồng, tăng 53,3%), đặc biệt là khoản tăng bổ sung từ nguồn tăng thu, dự toán chi còn lại năm 2025 chuyển sang năm 2026 (4.753 tỷ đồng) mới được phân bổ tại Nghị quyết số 330/NQ-HĐND ngày 29/5/2026 của HĐND tỉnh nên cần thời gian để triển khai.
        Qua rà soát đối với các chủ đầu tư được phân bổ kế hoạch vốn năm 2026, khối lượng dự kiến có thể giải ngân thêm trong trường hợp đảm bảo nguồn thu tiền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh đến nay là 1.635 tỷ đồng. Trường hợp tính thêm khối lượng giải ngân này, tổng giá trị giải ngân của toàn tỉnh tăng thêm từ 5.585 tỷ đồng lên 7.220 tỷ đồng (tăng 1.635 tỷ đồng), tương ứng đạt 35,45% kế hoạch HĐND tỉnh giao kể cả vốn kéo dài và đạt 47,08% kế hoạch vốn do Thủ tướng Chính phủ giao.
        Đồng thời, vừa qua, Trung ương bổ sung tăng kế hoạch vốn NSTW năm 2026 cho dự án Đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Quy Nhơn - Pleiku là 9.100 tỷ đồng (tại Quyết định số 1174/QĐ-TTg ngày 30/6/2026 của Thủ tướng Chính phủ). Hiện nay, đang trình HĐND tỉnh bổ sung kế hoạch vốn tổng nguồn, ngay khi được giao vốn dự án, các chủ đầu tư có thể đảm bảo giải ngân ngay đối với khối lượng nêu trên vì dự án này đã thực hiện tạm ứng ngân sách tỉnh để thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, đồng thời các chủ đầu tư đã tạm ứng khối lượng thanh toán thực hiện. Trường hợp giải ngân được hết khối lượng nêu trên, giá trị giải ngân của tỉnh đạt 55,4% kế hoạch vốn HĐND tỉnh giao (16.319/29.462 tỷ đồng) và đạt 67,4% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao (15.953/23.657 tỷ đồng).
        Tỉnh tiếp tục triển khai thi công nhiều dự án trọng điểm có quy mô lớn, góp phần tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho tỉnh trong thời gian tới, cụ thể: 02 dự án thuộc nhóm dự án quan trọng Quốc gia là Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Quy Nhơn – Pleiku và Dự án Đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc – Nam (đoạn qua địa bàn tỉnh Gia Lai); các dự án trọng điểm khác của tỉnh như: Dự án đầu tư xây dựng đường cất hạ cánh số 2 và các công trình đồng bộ tại khu bay Cảng hàng không Phù Cát; các tuyến đường kết nối từ cao tốc Bắc – Nam đến Khu công nghiệp Phù Mỹ và Bến cảng Phù Mỹ; tuyến đường nối từ Quốc lộ 1 đến đường ven biển ĐT.639 kết nối Cảng Đề Gi; tiếp tục đầu tư đường hành lang kinh tế phía Đông (đường tránh Quốc lộ 19), đường tỉnh 669, đường liên huyện Mang Yang – Ia Pa và tuyến đường ven biển (ĐT.639), đoạn Mỹ Thành - Lại Giang...  Đồng thời, tỉnh ưu tiên đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, khu đô thị, khu tái định cư, các dự án năng lượng và hạ tầng truyền tải điện, cùng các công trình y tế, giáo dục, thủy lợi và cấp nước sinh hoạt, qua đó tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế – xã hội và tăng cường liên kết vùng trong giai đoạn 2026- 2030.
        đ) Về thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp 
        Công tác xúc tiến, thu hút đầu tư tiếp tục được đẩy mạnh. Trong tháng 3, UBND tỉnh đã tổ chức Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Gia Lai năm 2026, đây là một trong những hoạt động trọng tâm tại Tuần lễ Khai mạc Năm Du lịch quốc gia - Gia Lai 2026, hứa hẹn mở ra nhiều cơ hội bứt phá cho kinh tế địa phương. Hội nghị có sự tham dự của các tổ chức quốc tế, các hiệp hội doanh nghiệp, các tổ chức xúc tiến đầu tư và 800 doanh nghiệp trong và ngoài nước cùng tham gia. Tại Hội nghị đã trao quyết định chủ trương đầu tư, giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và ký kết ghi nhớ hợp tác đầu tư (MOU) cho 273 dự án với tổng vốn gần 850.000 tỷ đồng, tương đương hơn 33 tỷ USD. Nhiều tập đoàn lớn đã ký những dự án nghìn tỷ như: VinEnergo (năng lượng tái tạo - 210.000 tỷ đồng), Tập đoàn FLC (du lịch, logistics - 150.000 tỷ đồng), Phú Tài (vật liệu mới, bất động sản - 26.500 tỷ đồng), và Sun Group (du lịch nghỉ dưỡng - 20.000 tỷ đồng)…
        Lũy kế 6 tháng đầu năm, toàn tỉnh thu hút 165 dự án đầu tư, đạt 97,06% kế hoạch, gấp 2,42 lần so với cùng kỳ với tổng vốn đăng ký đầu tư là 164.749,98 tỷ đồng, tăng gấp 3,21 lần so với cùng kỳ, trong đó có 163 dự án đầu tư trong nước có tổng vốn đăng ký 164.433,13 tỷ đồng và 02 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 315,85 tỷ đồng (tương đương 12,1 triệu USD). Phân theo lĩnh vực gồm: 81 dự án thuộc lĩnh vực Công nghiệp, tổng vốn đầu tư 139.629 tỷ đồng; 15 dự án thuộc lĩnh vực Xây dựng - hạ tầng, tổng vốn đầu tư 8.937 tỷ đồng; 48 dự án thuộc lĩnh vực Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, tổng vốn đầu tư 6.707 tỷ đồng; 04 dự án thuộc lĩnh vực Bất động sản, kinh tế đô thị, tổng vốn đầu tư 3.762 tỷ đồng; 15 dự án thuộc lĩnh vực Thương mại dịch vụ, du lịch, tổng vốn đầu tư 4.071 tỷ đồng; 01 dự án thuộc lĩnh vực Công nghệ thông tin; 01 dự án thuộc lĩnh vực Dịch vụ cảng và logistics, tổng vốn đầu tư 28 tỷ đồng.
        Hoạt động đăng ký doanh nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực. 6 tháng đầu năm có 2.075 doanh nghiệp thành lập mới, đạt 29,64% kế hoạch, tăng 38,06% so với cùng kỳ, với tổng vốn đăng ký đạt 29.504 tỷ đồng, đạt 59,01% kế hoạch, tăng gấp 2,53 lần so với cùng kỳ. Tạm ngừng kinh doanh 972 doanh nghiệp; giải thể 340 doanh nghiệp; hoạt động trở lại 414 doanh nghiệp.
        2. Về văn hoá – xã hội
        - Về giáo dục: Hoàn thành các hoạt động chuyên môn để kết thúc năm học 2025 - 2026; đã tổ chức thành công kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 trung học phổ thông năm học 2026 - 2027 và kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026. 
        Triển khai đồng bộ các nhiệm vụ trọng tâm về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; phát triển nguồn nhân lực; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo trong quản lý, dạy học; mở rộng giáo dục STEM, giáo dục hướng nghiệp và đào tạo thường xuyên; Tổ chức thực hiện đồng bộ các chương trình, đề án, kế hoạch và chính sách trọng tâm nhằm cụ thể hóa các mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026–2030, trọng tâm là Đề án bảo đảm cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho các cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh; Đề án phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026–2030; Chương trình giáo dục phổ thông 2018; Kế hoạch tổ chức dạy học 02 buổi/ngày đối với các cơ sở giáo dục đủ điều kiện...
        Tiếp tục triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, các chương trình, đề án phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026–2030; Tỉnh có thêm 02 trường mầm non, phổ thông được công nhận đạt chuẩn quốc gia, nâng tổng số trường mầm non, phổ thông đạt chuẩn lên 995/1.371 trường, tỉ lệ đạt 72,57%.
        - Về văn hóa - thể thao: Các ngành, địa phương trong tỉnh đã xây dựng và tổ chức thực hiện tốt công tác thông tin, tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ, kỷ niệm lớn của đất nước, của tỉnh như: Kỷ niệm 80 năm ngày tổng tuyên cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2026); Kỷ niệm 80 năm Ngày Bác Hồ gửi Thư Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku (19/4/1946 - 19/4/2026); kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) và kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế lao động (01/5/1886 - 01/5/2026);…  
        Triển khai xây dựng Bộ chỉ tiêu thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư tiếp tục được triển khai thực hiện có hiệu quả ở các địa phương, khen thưởng các cá nhân, tập thể tiêu biểu, xuất sắc trong công tác gia đình. 
        Các hoạt động thể dục thể thao được tổ chức sôi nổi như chương trình “Đêm Võ đài Bình Định”,.... Hoàn thiện các nội dung chuẩn bị công tác tổ chức Liên hoan quốc tế Võ Cổ truyền Việt Nam lần thứ IX – 2026; chuẩn bị lực lượng vận động viên, huấn luyện viên, các môn thể thao, xây dựng kế hoạch tập huấn cụ thể, phấn đấu đạt chỉ tiêu đề ra tại Đại hội Thể dục Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. Đã tham gia thi đấu 28 giải trong hệ thống quốc gia, thành tích đạt được 164 huy chương (trong đó: 52 Huy chương vàng, 36 Huy chương bạc và 76 Huy chương đồng); tham gia 08 giải tham gia thi đấu khu vực, quốc tế, thành tích đạt được 22 huy chương (trong đó: 08 Huy chương vàng, 08 Huy chương bạc và 06 huy chương đồng).
        - Về y tế: Cụ thể hóa Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 của Bộ Chính trị về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân trên địa bàn tỉnh làm cơ sở tổ chức triển khai thực hiện như: Kế hoạch số 06-KH/TU ngày 20/10/2025 của Tỉnh uỷ; Nghị quyết số 94/NQ-HĐND ngày 09/12/2025 của HĐND tỉnh về việc thông qua Đề án Phát triển hệ thống y tế tỉnh Gia Lai đến năm 2030; Kế hoạch số 48/KH-UBND ngày 04/02/2026 của UBND tỉnh thông qua Đề án Phát triển hệ thống y tế tỉnh Gia Lai đến năm 2030.
        Công tác phòng, chống dịch bệnh được tập trung triển khai kịp thời theo hướng chủ động, sát tình hình, bám cơ sở, lấy phòng bệnh là trọng tâm, phát hiện sớm, tham mưu sớm, xử lý kịp thời. Tăng cường giám sát các bệnh truyền nhiễm lưu hành, bệnh mới nổi, tái nổi; củng cố hệ thống giám sát từ tuyến tỉnh đến tuyến xã. phường; Chuẩn bị sẵn sàng nhân lực, vật tư, hóa chất, phương tiện, đội đáp ứng nhanh và phương án xử lý dịch theo phương châm “4 tại chỗ”. Tình hình dịch bệnh trên địa bàn cơ bản được kiểm soát, không để xảy ra dịch lớn.
        Xây dựng kế hoạch triển khai khám sức khỏe định kỳ cho người dân trên địa bàn tỉnh năm 2026 – 2027, kế hoạch tổ chức khám sức khỏe định kỳ miễn phí cho tất cả người dân tại 12 xã biên giới, hải đảo, xã đặc biệt khó khăn.
        Thường xuyên chỉ đạo, giám sát, kiểm tra các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh triển khai thực hiện, tuân thủ các quy trình chuyên môn, kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải tiến quy trình khám bệnh; triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ và cải thiện các điều kiện phục vụ sinh hoạt của người bệnh; nâng cao tinh thần trách nhiệm và phong cách, thái độ phục vụ của nhân viên y tế, đi đôi với đảm bảo vệ sinh môi trường và tạo dựng cảnh quan cơ sở y tế “xanh, sạch, đẹp” hướng tới sự hài lòng của người bệnh.
        Duy trì thường xuyên hoạt động truyền thông về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và giám sát các nguy cơ ô nhiễm thực phẩm trong cộng đồng, kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm vi phạm về an toàn thực phẩm.
        - Về lao động, việc làm, an sinh xã hội: Công tác an sinh xã hội, chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách tiếp tục được thực hiện. Đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật về công tác xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ phát triển sản xuất, hỗ trợ tiếp cận được nguồn vốn vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội. Tiếp tục giải quyết chế độ trợ cấp cho các trường hợp người có công với cách mạng và thân nhân theo quy định. 
        Hỗ trợ cấp 28.053 thẻ BHYT cho người thuộc hộ nghèo, 12.626 thẻ cho người dân tộc thiểu số thuộc hộ cận nghèo; hỗ trợ cấp 556.522 thẻ cho người dân tộc thiểu số đang cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; hỗ trợ cấp 329.354 thẻ cho người đang cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; 1.683 thẻ cho người đang sinh sống tại xã đảo. 100% người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo đã tiếp cận đầy đủ thẻ BHYT.
        Nhân dịp Tết Nguyên đán, các cấp, các ngành, các địa phương đã tổ chức thăm và tặng quà, trao quà tặng của Chủ tịch nước, quà tặng của Lãnh đạo tỉnh cho người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp hàng tháng và người thờ cúng liệt sĩ, đối tượng gia đình chính sách, người có công với cách mạng.
        Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em tiếp tục được quan tâm, triển khai thực hiện. Trong đó, tập trung đẩy mạnh thực hiện các nội dung thuộc Chương trình phòng, chống tai nạn thương tích trẻ em; Chương trình phòng ngừa, giảm thiểu lao động trẻ em; Chương trình Bảo vệ trẻ em...; tổ chức thăm và tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nhân các dịp lễ, tết.
        - Về khoa học - công nghệ: Tập trung đẩy nhanh tiến độ triển khai các nhiệm vụ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị năm 2026, bảo đảm hiệu quả, chất lượng. Tiếp tục theo dõi quản lý 02 nhiệm vụ cấp quốc gia. Phối hợp tổ chức “Cuộc thi Hackathon quốc tế Điện toán Lượng tử vì Mục tiêu Phát triển Xã hội - Gia Lai 2026” (là cuộc thi lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam). Hoàn thiện dự thảo Kế hoạch triển khai Chiến lược quốc gia về khởi nghiệp sáng tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; thực hiện rà soát, sửa đổi, xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách đặc thù của tỉnh để hỗ trợ, thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp chuyển đổi số toàn diện, hiệu quả; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi thúc đẩy hoạt động thu hút các doanh nghiệp số đầu tư vào tỉnh.
        Tiếp tục tập trung tuyên truyền chủ trương về thúc đẩy sản xuất; chống kinh doanh, sản xuất hàng giả; chống buôn lậu, kiểm soát giá cả thị trường, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, ngăn ngừa các thông tin sai lệch gây tác động xấu đến sản xuất kinh doanh và tâm lý người tiêu dùng.

 
        Nguyễn Thị Bình – Phòng Tổng hợp